Thời gian đọc: 12 phút

Tự xử:

VỤ ÁN và TRẠI LAO CẢI[1]

 

 

 

Ngay cả trên ghế bị cáo, được nghe nói về chính mình vẫn luôn là một điều thú vị.

Albert Camus, NGƯỜI DƯNG[2]

 

Vào một chiều thứ Sáu, ngày 29 tháng 12 năm 1899, một gã làm công nhật thất nghiệp bước vào văn phòng của Sở Bảo hiểm Tai nạn Lao động Praha đòi hỗ trợ tài chính. Sau khi xét sơ sơ sự vụ, gã bị từ chối. Gã liền lớn tiếng lăng mạ các quan chức, quăng mấy cái ghế khắp phòng, và khi các nhân viên văn phòng chạy tới do nghe tiếng ồn ào bất thường, gã rút dao trong túi ra. Người ta phải gọi một cảnh sát đến, và chỉ khi đó mọi người mới hợp lực giật được vũ khí từ tay gã đàn ông trong cơn thịnh nộ. Gã được chuyển đến bộ phận an ninh của sở cảnh sát để ghi lại các thông tin cá nhân. Gã đàn ông đó là Joseph Kafka, người làng Rotoř miền Đông Bohemia. Vì ngày đó chưa có luật báo chí nên câu chuyện đã được báo chí đăng tải với đầy đủ tên họ. Trong hoàn cảnh hiện nay thì gã sẽ được gọi là “Joseph K.”: một nhân vật trong mục tin tức địa phương.

Khoảng mười năm sau đó, nhân viên bảo hiểm Franz Kafka nói với bạn mình là Max Brod: “Những con người này thật khiêm nhường. Họ đến chỗ chúng ta xin xỏ. Thay vì xông vào đập nát bét mọi thứ thì họ lại làm đơn xin xỏ.” Sếp của Kafka, ông Marschner, lẽ ra phải biết rõ hơn, bởi vì ông ta là người xử lý các vụ việc của Sở Bảo hiểm hồi đó và có thể đã chứng kiến ​​vụ việc. Có lẽ về sau Kafka mới biết đến chuyện này. Nó hẳn đã khiến ông xúc động, có lẽ đã khiến bạn bè ông thích thú, và việc cái gã thô lỗ nọ trùng tên với ông (và biết đâu lại có họ hàng xa) và giống cả tên vị hoàng đế đang trị vì, chỉ khiến mọi thứ trở nên khôi hài hơn.

Josef K.: Cái tên viết tắt xuất hiện đầu tiên vào ngày 29 tháng 7 năm 1914, chỉ một ngày sau khi Kafka quyết định “tự cứu” mình bằng cách trở thành nhà văn. Đó cũng lại là một câu chuyện cha-con bật lên trong tâm trí ông mà nhân vật chính thoạt tiên mang tên “Hans Gorre.” Nhưng sau đó Kafka lại khoái ý tưởng thay thế tên đó bằng một mật danh vừa lộ liễu mà cũng vừa kín đáo. Ông biết K. nghĩa là gì. Còn người đọc có thể đoán ra.

Chúng ta không biết liệu trước khi Kafka đưa cái hình nộm này của chính mình vào một vụ án mệt mỏi có thực hiện thêm những thí nghiệm khác với nó không. Trong cuốn “Nhật ký số chín” mà ông dùng để mở đầu cuốn tiểu thuyết bị khuyết một số trang: những nỗ lực sáng tác từ những ngày đầu tiên của nỗi cô đơn mới nửa khát khao nửa gượng ép ở nhà em gái mình. Mãi đến khoảng ngày 10 tháng 8 – như những tờ giấy còn sót lại cho thấy – Kafka mới nảy ra ý tưởng mang tính quyết định. Như thường lệ, ông gạch ngang một vạch ngắn để đánh dấu sự khởi đầu của một nỗ lực mới, rồi viết một câu lạ lẫm: “Chắc hẳn kẻ nào đó đã vu khống khiến Josef K. bị bắt vào buổi sáng hôm đó, dù anh ta chẳng làm gì nên tội.”

Bị bắt[3]? Đó là câu chữ rõ ràng trong bản thảo. Nhưng khái niệm này gây lầm lẫn, như Kafka hẳn đã nhận ra ngay. “Bắt” là một hành vi trong chiến tranh, ngày nay người ta đọc về nó trên báo mỗi ngày, và thế là chiến tranh đã thấm vào những lời đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết của ông. Nhưng trong thời bình – và trong VỤ ÁN rõ ràng là thời bình – hành vi “bắt” thực sự chỉ có thể xuất hiện trong trò chơi con nít hoặc trong ác mộng. Ông phải sửa chữ ấy, vì chắc chắn đó không phải là một giấc mộng mà ông muốn miêu tả, hệt như khi viết HÓA THÂN[4]. Hôm sau ông tìm ra giải pháp. Hai nét bút là đủ để lái cuốn tiểu thuyết sang hướng khác. Và thế là một trong những “câu mở đầu” nổi tiếng nhất trong văn chương trường thiên tiểu thuyết ra đời: “Chắc hẳn kẻ nào đó đã vu khống khiến Josef K. bị tống giam vào buổi sáng hôm đó, dù anh ta chẳng làm gì nên tội.”

 

 

VỤ ÁN của Kafka là một con quái vật. Trong đó không có gì là bình thường, không có gì đơn giản. Bất kể ta xét đến lịch sử ra đời, bản thảo, hình thức, nội dung sự việc hay cách đoán định cuốn tiểu thuyết: kết luận vẫn luôn là một. Nhìn đâu cũng thấy u ám.

Max Brod cũng là người đầu tiên cảm nhận được điều này, cũng là người được Kafka liên tục đọc cho nghe vài trang và rốt cục đã giật lấy bản thảo để cứu nó khỏi sự hủy diệt nhãn tiền. VỤ ÁN là một tác phẩm để đời và do đó có khả năng làm cho hào quang văn học của bạn ông rực lên như một siêu tân tinh; Brod không hề nghi ngờ gì điều đó. Nhưng cuối cùng thứ ông cầm trên tay là 161 tờ giấy rời, hầu hết được viết cả hai mặt, xé ra từ nhiều cuốn sổ khác nhau. Kafka đã sắp xếp những trang này theo một thứ tự tạm bợ bằng cách xếp thành những tệp nhỏ có thể đoán được là “chương”, với một trang bìa và một nhan đề tạm thời. Tuy nhiên có những “tệp” chỉ bao gồm một tờ duy nhất, trong khi người ta ngờ rằng những “tệp” khác lại chứa nhiều hơn một chương. Kafka không nói ông coi phần nào là hoàn chỉnh, cũng không đánh số chúng. Và thế là Brod phải đối mặt với một mớ hỗn tạp các chương đã hoàn thành, gần như hoàn thành, chưa hoàn thành và mới bắt đầu, và ông sẽ phải tự mình xếp theo thứ tự, nếu định tạo ra một cuốn sách từ đó. Tất nhiên Brod có đủ dịp hỏi chính tác giả về điều này trong nhiều năm, nhưng ông chẳng dại. Ông quá mừng khi kho báu này được cất giữ an toàn trong ngăn kéo của mình, vì vậy ông ta chỉ tạo áp lực cho Kafka theo cách quen thuộc của mình bằng cách nói ra mồm về một cuốn tiểu thuyết “đã hoàn thành” và thậm chí có lần dọa sẽ “tự tay hoàn chỉnh đến cùng” cuốn VỤ ÁN. Giả sử Kafka đoán được Brod nói nghiêm túc, chắc chắn ông đã đòi lại các tệp giấy VỤ ÁN của mình.

Brod là một nhà báo khôn lỏi, nhưng không có công cụ cũng như sự nghiêm cẩn của một nhà ngữ văn được đào tạo bài bản. Ông không hề đắn đo khi gạch bỏ những đoạn tốc ký của Kafka và ghi lại phiên bản đã được chính mình biên tập trên cùng một trang. Ông chấp nhận mọi phương tiện để đánh lạc hướng những độc giả cần được thuyết phục về thiên tài của Kafka khỏi trạng thái dang dở của tác phẩm; ông thêm chấm thêm phẩy, thống nhất tên họ, thậm chí hoán đổi cả câu để đẽo gọt cho tròn một chương chưa hoàn tất. Những mẩu rời rạc bị ông vứt bỏ hoặc xếp vào phần phụ lục của những lần tái bản sau; phần còn lại ông sắp xếp theo cảm tính. Rốt cục, chính cách làm trần tục ấy đã cho ra đời văn bản cuối cùng mà các thế hệ nhà chú giải say sưa nghiền ngẫm như thể nó là một sự mặc khải.

Ngày nay thì ai cũng được thoải mái đọc những trang gốc quý giá được chụp lại, qua đó dễ nhận ra rằng Brod đã làm rất tốt ở điều kiện khó có thể bất lợi hơn. Kỳ vọng của ông là đưa tác phẩm để đời của Kafka đến với công chúng càng sớm càng tốt sau khi Kafka qua đời, và ông đã đạt được mục đích này chỉ sau chín tháng. Brod không thể trả lời câu hỏi, liệu chính tác giả sẽ sắp xếp các cấu phần và nối chúng lại với nhau ra sao, và dù có sự trợ lực của phương pháp ngữ văn biên tập cao cường, cho đến nay vẫn chưa ai đưa ra được một giải pháp hoàn toàn thỏa đáng. Với bản thảo này, đó là một căn bệnh vô phương cứu chữa. Và vì thế chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài hy vọng vào một mục lục do chính tay Kafka viết ra mà một ngày nào đó sẽ được tìm thấy trên một tầng áp mái bị lãng quên nào đó ở Praha…

 

 

Giả sử Kafka có ác ý chơi khó tối đa các biên tập viên tương lai của mình thì ông cũng khó mà làm điều đó một cách nham hiểm hơn. Trạng thái hỗn độn của các bản thảo – vốn đã dẫn đến những tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ giữa các chuyên gia trong ngành – không liên quan gì đến thói “úp úp mở mở” kinh niên của Kafka. Nghe thì có vẻ nghịch lý, song tất cả những nghịch cảnh ấy là hệ quả của một quyết tâm hoàn toàn thực dụng mà theo đó ông không có ý gì khác ngoài việc gò việc viết lách của mình vào kỷ luật. Ông từng nát óc tại sao mình chưa hoàn thành phần cuối của KẺ MẤT TÍCH[5], do đó lần này ông muốn làm khác đi và tốt hơn. Ước muốn lôi ra một cách đầy khoái cảm những hình ảnh và cảnh trí từ nội tâm mà không bị gián đoạn hay nhiễu loạn, tương tự như khi đẻ một sinh thể sống, là bất khả thi, chừng nào những hình ảnh ấy bung ra khỏi phạm vi một short story và phát triển thành một vũ trụ độc lập. Thể chất con người có giới hạn của nó: ông thường xuyên cảm nhận được nó, và bây giờ ông bắt đầu chấp nhận nó. Tiểu thuyết gia cũng có lúc phải ngủ, và dù có ngồi dưới tầng hầm, sau những bức tường kiên cố, ông cũng không thể lờ đi cơ thể xập xệ của mình, lờ đi cuộc đời, cũng chính là sự nhiễu loạn vậy.

Làm việc đều đặn hơn: đây là yêu cầu cơ bản mà Brod đã nhiều năm cố gắng khuyến cáo ông. Nhưng Kafka cảm thấy không thể áp đặt tính liên tục và nhịp điệu thường nhật vào công việc viết lách của mình. Nếu không có tiếng động hoặc tia sáng nào lọt qua ô cửa nội tâm thì tốt hơn hết là buông bỏ và hôm sau thử lại lần nữa. Nếu không có tính kiên nhẫn ấy, ta sẽ có nguy cơ phá hỏng tác phẩm đẹp đẽ nhất chỉ vì những “cấu trúc” bên ngoài. Chẳng phải quá trình viết RICHARD VÀ SAMUEL[6] mấy năm trước đã chứng minh điều đó rồi sao: nó hoàn toàn thất bại. Ông rùng mình nhớ lại cái tác phẩm viết chung đó đã được thực hiện theo thời gian biểu mà rốt cục Brod dằn dỗi buông tay.

Tuy nhiên, VỤ ÁN đã mở ra những khả năng kỹ thuật mới mà chưa một người bạn nào của ông từng nghĩ tới. Kafka muốn mô tả một phiên tòa thực sự, với tất cả thủ tục và quy trình pháp lý, và ông muốn mô tả tác động của vụ án ấy đối với một bị cáo có cuộc đời bình dị với những mối quan hệ hạn hẹp trong cuộc sống: bà chủ nhà, hàng xóm, người tình, mẹ, đồng nghiệp, cấp trên, khách hàng, luật sư, tư vấn viên. Có nhất thiết phải tiếp tục mò mẫm đi qua số phận của người này theo trình tự thời gian và tuyến tính, như Kafka đã thực hiện trong KẺ MẤT TÍCH? Chẳng phải cũng có các chiến lược khả thi khác sao? Chắc chắn là, chừng nào sau mỗi góc phố có một chuyện bất ngờ chờ nhân vật thì tác giả không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đồng hành với anh ta và luôn tiếp tục công việc còn dang dở. Ở đó hoặc không nơi nào cả. Bởi vì tác giả phải thiết lập những điểm bẻ ghi mà anh ta chỉ biết đến sự tồn tại của chúng ở đúng thời điểm chúng xuất hiện giữa quầng sáng trong cảnh trí tưởng tượng của mình. Nhưng góc nhìn này rất hẹp, nên nhiệm vụ của anh vĩnh viễn không đổi: chuyển từ câu cuối cùng của đêm qua sang câu đầu tiên của ngày mới.

Nhưng VỤ ÁN thì khác, nó là một cỗ máy đồng hồ có cơ chế nằm trong ánh sáng đầy đủ của ý thức. Nó có một khởi đầu mà ở đó tia sét cáo trạng phải giáng xuống ở một dạng thức nào đó, và nó có một kết thúc, mà kết thúc đó chỉ có thể là việc thi hành án quyết. Điều này tạo ra một khuôn khổ và một chuỗi các cảnh trí được kết nối lỏng lẻo, buộc phải phát sinh từ ý tưởng tổng thể. Cái mẹo hiển nhiên mà Kafka phải áp dụng là chỉ thể hiện cảnh trí sống động nhất đang diễn ra trong tâm trí mình. Lúc thì ông viết ở cuốn sổ này, lúc thì ở cuốn khác. Nếu không tìm được cuốn sổ trống nào để đi tiếp, ông lật một cuốn đã dùng rồi và viết lên đó từ trang cuối. Và vì phần mở bài và phần kết của cuốn tiểu thuyết là những trụ cột đã có dáng vẻ rõ ràng để toàn bộ ngôi nhà tựa vào, nên ông viết những chương này trước tiên và thậm chí đã có thể viết cùng một lúc.

Qua đó Kafka đã đảm bảo hoạt động chủ yếu trong một khu vực hạn chế, và chắc chắn là các bạn Kafka đã tán thưởng quyết tâm của ông nhằm xử lý những khó khăn kỹ thuật trong việc viết lách, thay vì chỉ mơ mộng về những điều kiện lý tưởng. Có lẽ họ không hình dung được rằng Kafka – vốn từ nhiều tháng nay có vẻ bồn chồn, kiệt quệ và đuối sức trong mọi vấn đề thực tế – chính lúc này đã mục sở thị những hoa trái mà ông hằng mong đợi. Sự tập trung, cường độ mà ông đã chờ đợi từ hơn một năm nay, đột nhiên hiện lên. Bây giờ là lúc vung cả hai tay ra gặt hái một cách khẩn trương.

 

“Nhìn từ góc độ văn chương, số phận của tôi rất đơn giản. Ý thức thể hiện đời sống nội tâm mộng mơ của tôi đã đẩy mọi thứ khác qua một bên và nó đã quắt queo đi một cách khủng khiếp và không ngừng quắt queo tiếp. Không có gì khác có thể làm tôi hài lòng được. Nhưng bây giờ nguồn lực của tôi dành cho sự thể hiện đó hoàn toàn không thể lường trước được, có thể nó đã vĩnh viễn biến mất, có thể nó sẽ ập lại với tôi lần nữa, nhưng điều kiện sống của tôi không thuận lợi cho nó. Vì vậy tôi chao đảo, tôi không ngừng bay lên đỉnh núi, nhưng tôi không thể trụ lại ở đó trong giây lát. Những người khác cũng chao đảo chứ, nhưng ở những triền núi thấp hơn, với nguồn lực dồi dào hơn; nếu họ sắp rơi, họ có người thân đi bên cạnh chỉ để đỡ họ lúc ngã. Nhưng tôi chao đảo trên cao kia, chỉ tiếc là không có Thần chết, mà chỉ là sự khổ ải vĩnh viễn lúc sắp lìa trần.”

 

Trên đây là một trong những đoạn nổi tiếng nhất, được trích dẫn nhiều nhất từ nhật ký của Kafka. Nó được coi là minh chứng của sự dằn vặt vì nghi ngờ bản thân, thậm chí như một lời giã biệt với cuộc sống giờ đây đã hoàn toàn “bị đẩy qua một bên” sau khi chia tay Felice[7]. Trên thực tế, đó là một trong những cách điệu hóa mạnh mẽ nhất về sự tồn tại của chính Kafka mà chúng ta được biết, có thể so sánh về tính thống thiết của nó với lời cầu khấn một thế giới nội tâm vô hạn trong những bức thư gửi Felice, lời cầu khấn được phát ra, tất nhiên, khi cuộc hôn nhân càng xích lại gần hơn. Nhưng ở đây Kafka tự nhủ: ông nói về đỉnh núi mà ông đã bay tới và về vùng chết mà ở đó chỉ mình ông nán lại được. Và ông sẽ không nói về điều này nếu không nhìn thấy đỉnh cao trước mặt. Ông sẽ nán lại đó. Và chỉ vài ngày sau, ngay khi đặt những bước chân đầu tiên vào những vùng khắc nghiệt của thế giới VỤ ÁN, ông không còn nghi ngờ gì về điều đó nữa.

 

“Tôi đã viết được vài ngày và hy vọng duy trì được như vậy. Hôm nay tôi không hoàn toàn ẩn náu và đắm chìm trong công việc như hai năm trước đây, ít nhất tôi cũng có một ý nghĩa, cuộc sống độc thân đều đặn, trống rỗng, điên rồ của tôi có lý do chính đáng. Tôi lại có thể đối thoại với chính mình một lần nữa và không nhìn chằm chằm vào sự trống rỗng tuyệt đối. Đây là cách duy nhất để tôi khá lên.”

 

Kafka đang ở giai đoạn đầu của giai đoạn sáng tạo hiệu quả nhất trong đời mình. Chúng ta hãy thử đoán nguồn nhiên liệu đột ngột đó từ đâu đến: đó chính là lượng năng lượng mà cuộc chiến tâm lý vì hôn nhân đã ngốn mất trong nhiều tháng, nhiều năm. Nó giống như bức màn được kéo ra. Sân khấu bên trong, đã từ lâu đắm mình trong ánh sáng nhập nhoạng, bừng sáng như dưới ánh điện. Những nhân vật hiện ra, cảnh trí, phong cảnh, hiển hiện rõ rệt như trong cơn mê sảng. Lúc đầu nó khiến ông choáng ngợp, ông viết ra những câu, những cảnh nhỏ lấp lánh và mờ ảo. Nhưng lát sau Kafka trở thành đạo diễn những giấc mơ đó, ông giành quyền điều khiển, nắm chặt quả đấm, cố gắng hết lần này đến lần khác để “thúc đẩy” chính mình, như thể ông là giám đốc nhà hát của chính mình: “Tôi biết rằng tôi không được phép nhượng bộ, nếu tôi muốn vượt qua những khổ ải tối thiểu của việc viết lách, vốn đã bị kìm hãm trong suốt quãng đời còn lại của tôi, để đến được với sự tự do lớn hơn có lẽ đang chờ đợi tôi.”

Quang L. dịch

(Dịch từ bản tiếng Đức Kafka: Die Jahre der Entscheidungen của Reiner Stach, do NXB S. Fischer xuất bản năm 2002.)

 

[1] DER PROZESS và IN DER STRAFKOLONIE (Lưu ý là các tác phẩm nhắc đến trong bài này có thể đã được dịch nhiều lần sang tiếng Việt và mang nhiều tên khác nhau, do đó người dịch bổ sung tên bản gốc.)

[2]  L’ÉTRANGER: tiểu thuyết của Albert Camus.

[3] Tác giả nhấn mạnh: “gefangen” trong bản thảo là “bị bắt” (như nhiều bản dịch tiếng Việt, ví dụ của Lê Chu Cầu), thực ra đã được Kafka sửa cho mạnh hơn là “bị tống giam” (“verhaftet”.)

[4] DIE VERWANDLUNG.

[5] DER VERSCHOLLENE, sau này được Max Brod xuất bản với tên AMERIKA (bản dịch tiếng Việt: “NƯỚC MỸ”.)

[6] RICHARD UND SAMUEL: tác phẩm chung của Franz Kafka và Max Brod, thất bại ngay sau chương đầu vì sự dị biệt lớn giữa hai cây bút.

[7] Felix Bauer (1887-1960) là vợ chưa cưới đầu tiên của Kafka. Kafka đã tặng bà truyện LỜI TUYÊN ÁN (DAS URTEIL) xuất bản năm 1913 (phụ đề: Một truyện dành cho Felice B.). Ông viết hơn 500 bức thư và bưu thiếp khi bà sống ở Berlin. Những bức thư của Felice Bauer gửi cho Kafka sau đó đã bị ông tiêu hủy. Sau khi Franz Kafka và Felice Bauer hai lần đính hôn, cuối cùng họ chia tay hẳn vào năm 1917.

Chấm sao chút:

Đã có 0 người chấm, trung bình 0 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3