Thời gian đọc: 10 phút

Annie Ernaux (1940) là một trong những nữ nhà văn đương đại quan trọng nhất của Pháp. Các tác phẩm của bà thường mang tính tự truyện cao, và tiểu thuyết Les Années (Những năm ấy) được giới phê bình coi là xuất sắc nhất, được ví von như một phiên bản ngắn gọn của Đi tìm thời gian đã mất của tác giả. Đoạn trích dưới đây là phần dạo đầu, đầy vị trôi tuột của thời gian.

Những năm ấy nằm trong danh sách « 100 cuốn tiểu thuyết làm Le Monde hứng thú nhất từ 1944 ». Annie Ernaux luôn nằm trong bảng cá cược Nobel của các nhà cái.

Zzz Blog

Hình ảnh nào rồi cũng sẽ tan biến.

người đàn bà ngồi xổm tiểu tiện giữa thanh thiên bạch nhật phía sau một cái lán dùng làm quán cà phê, nằm ven đống đổ nát, ở Yvetot, thời hậu chiến, đang đứng kéo lại quần lót, váy vén lên, rồi từ đó quay trở lại quán cà phê

khuôn mặt đẫm nước mắt của Alida Valli khiêu vũ cùng Georges Wilson trong phim Une si longue absence[1]

người đàn ông đi ngang qua trên một vỉa hè ở Padoue, mùa hè năm 90, hai tay ôm lấy vai, tức thì gợi nhắc ký ức về thuốc an thần thalidomid từng được kê cho phụ nữ có thai bị nôn nghén ba mươi năm trước và vì thế mà cũng gợi nhắc cả câu chuyện nực cười sau đây: một người mẹ tương lai vừa đan tã vừa đều đặn dùng thalitomid, cứ đan được một hàng lại uống một viên. Cô bạn gái của chị hoảng hốt nói, vậy là cậu không biết chuyện em bé của cậu có nguy cơ ra đời mà không có cánh tay rồi, người mẹ ấy trả lời, ừ tớ biết chứ nhưng tớ cũng chẳng biết đan tay áo

Claude Piéplu dẫn đầu một trung đoàn lính lê dương, một tay cầm cờ, tay còn lại dắt dê, trong một phim có nhóm Les Charlots tham gia

người đàn bà uy nghiêm ấy, người đàn bà mắc chứng Alzheimer, mặc chiếc áo khoác hoa như tất cả những người khác trong trại dưỡng lão, chỉ khác là bà choàng trên vai tấm khăn san xanh lơ, không ngừng đi lại khắp các hành lang, dáng vẻ cao ngạo, tựa nữ công tước Guermantes đi dạo giữa rừng Bologne và khiến người ta nghĩ đến Céleste Albaret khi một tối nọ bà xuất hiện trên một chương trình của Bernard Pivot

trên một sân khấu ngoài trời, người phụ nữ bị nhốt trong một cái hộp mà đám đàn ông dùng những lưỡi giáo bạc đâm xuyên qua chỗ này chỗ kia – nhưng lúc bước ra vẫn sống sót vì đó chẳng qua chỉ là một màn xiếc có tên gọi Một phụ nữ cảm tử

những xác ướp quấn đăng ten rách rưới treo lủng lẳng trên các bức tường ở tu viện dei Cappuccini de Palermo

khuôn mặt Simone Signoret trên áp phích phim Thérèse Raquin

cái giày quay trên một cái bệ trong một cửa hàng André phố Gros-Horloge ở Rouen, và quay quanh cùng một câu cứ không ngừng diễu qua diễu lại: “avec Babybotte Bébé trotte et pousse bien”[2]

gã đàn ông xa lạ trên sân ga Termini ở Roma kéo nửa tấm che toa hạng nhất nơi mình ngồi rồi khi phần thân trên đã trở nên vô hình thì vày vò bộ phận sinh dục của mình hướng về phía mấy cô hành khách trẻ trên con tàu đậu ở bờ kè đối diện đang tì khuỷu tay vào thanh chắn

chàng trai trong một phim quảng cáo cho Paic Vaisselle, lẹ làng đập vỡ hết bát đĩa bẩn thay vì lau rửa. Một tiếng ngoài khung hình nghiêm khắc cất lên “đó đâu phải giải pháp!”, thế là chàng trai tuyệt vọng nhìn khán giả, “vậy đâu mới là giải pháp?”

 

bãi biển Arenys de Mar nằm bên một tuyến đường sắt, vị khách trong khách sạn giống Zappy Max

đứa trẻ sơ sinh được giơ lên không chẳng khác nào con thỏ trụi lông trong phòng đẻ ở bệnh viện Pasteur de Caudéran, để rồi nửa tiếng sau đã ăn vận chỉnh tề, nằm nghiêng mình ngủ trên chiếc giường nhỏ, một tay thò ra ngoài trong khi chăn đắp lên tận vai

dáng người lanh lợi của diễn viên Philippe Lemaire, hôn phu của Juliette Gréco

trong một quảng cáo trên truyền hình, người cha, lặng lẽ từ phía sau tờ báo đang đọc, cố tung một viên kẹo Picorette lên không rồi dùng miệng bắt lấy như cô con gái nhỏ, nhưng công cốc

một ngôi nhà với một giàn cây leo hình vòm, cũng từng là một khách sạn những năm 60, ở số 90A, kè Zattere, Venice

hàng trăm khuôn mặt đờ đẫn, bị chính quyền chụp lại trước khi lên đường đến các trại tập trung, trên những bức tường trong một căn phòng ở Palais de Tokyo, Paris, giữa những năm 80

nhà vệ sinh dựng phía trên con sông chảy qua sau ngôi nhà ở Lillebonne, phân lẫn vào giấy bị nước ì oạp vỗ quanh nhẹ nhàng cuốn đi

toàn bộ hình ảnh hoàng hôn những năm đầu, với những vùng sáng một Chủ nhật mùa hè, những vùng mơ nơi cha mẹ quá cố hồi sinh, nơi ta tản bộ trên những con đường vô định

hình ảnh Scarlett O’Hara kéo lê viên lính miền Bắc nàng vừa giết trong hành lang – chạy khắp các nẻo đường Atlanta tìm một bác sĩ cho nàng Mélanie sắp lâm bồn

hình ảnh Molly Bloom nằm cạnh chồng và hồi tưởng lại lần đầu một cậu trai hôn nàng còn nàng thì nói phải rồi phải rồi phải rồi

hình ảnh Elizabeth Drummond bị giết cùng bố mẹ trên một con đường ở Lurs, năm 1952

những hình ảnh có thực hay tưởng tượng, những hình ảnh theo vào tận giấc chiêm bao

những hình ảnh về một khoảnh khắc thấm đẫm thứ ánh sáng chỉ thuộc về chính những hình ảnh ấy

Chúng rồi cũng sẽ tan biến hết thảy như hàng triệu hình ảnh trong tâm trí những người ông người bà đã mất cách nay nửa thế kỷ, cả trong tâm trí những bậc phụ huynh quá cố. Những hình ảnh mà ở đó ta hình dung mình là cô gái nhỏ giữa bao sinh linh khác đã tan biến trước khi ta chào đời, cũng giống như cách con cái chúng ta cùng cha mẹ và bạn học của chúng ta hiện diện trong ký ức chúng ta. Và một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ ở trong ký ức của con cháu mình giữa bao hậu duệ và những con người còn chưa chào đời. Hệt như dục vọng, ký ức không bao giờ dừng lại. Nó kết nối người chết với người sống, kết nối những sinh linh hữu thực với những sinh linh tưởng tượng, kết nối chiêm bao với lịch sử.

Sẽ đột nhiên tiêu biến hàng nghìn từ ngữ từng được dùng để gọi tên bao vật, bao mặt người, bao hành vi và tình cảm, từng sắp đặt thế giới, từng khiến con tim phập phồng và bộ phận sinh dục ẩm ướt.

những khẩu hiệu, những graffiti trên những bức tường đường phố hay nhà vệ sinh, những bài thơ hay những câu chuyện tục tĩu, những nhan đề

anamnèse, épigone, noème, théorétique[3], những thuật ngữ được ghi lại trên một cuốn sổ kèm theo định nghĩa để không phải tra từ điển cứ mỗi lần thấy lại

những cụm từ mà người khác dùng thật tự nhiên song ta lại ngờ liệu mình có thể sử dụng một ngày nào đó, il est indéniable que, force est de constater[4]

những câu nói khủng khiếp lẽ ra phải quên đi, lại dai dẳng hơn bất kỳ câu nói nào khác bởi ta mải nỗ lực kìm nén chúng, mày hệt như con điếm già

những câu mà đêm đêm đàn ông nói trên giường, Muốn làm gì anh thì làm, anh là món đồ của em mà

tồn tại là uống mà không khát

các người làm gì vào ngày 11 tháng Chín 2001?

in illo tempore[5] Chủ nhật đi lễ nhà thờ

vieux kroumir, faire du chambard, ça valait mille!, tu es un petit ballot![6] những lối diễn đạt lỗi thời, bỗng tình cờ nghe lại, đột nhiên trở nên quý giá chẳng khác nào các món đồ đã mất được tìm thấy, và ta tự hỏi chúng từng được bảo tồn thế nào

những lời nói vĩnh viễn gắn với cá nhân này hay cá nhân kia như một biểu tượng – với một địa điểm cụ thể trên quốc lộ 14, bởi một hành khách từng phát ngôn chúng đúng lúc ta đi ô tô ngang qua và không thể lại ngang qua mà vẫn gặp chính những lời nói ấy một lần nữa đột nhiên xuất hiện, hệt những tia nước ngầm ở cung điện Mùa hè của Pierre Đại đế cứ khi ta đặt chân lên là lại vọt ra

những ví dụ ngữ pháp, những câu trích dẫn, những lời thóa mạ, những bài hát, những câu nói chép lại từ những cuốn sổ thuở thiếu thời.

thầy dòng Trublet cóp nhặt, cóp nhặt, cóp nhặt[7]

vinh quang đối với một phụ nữ là cái chết huy hoàng của hạnh phúc

ký ức chúng ta nằm bên ngoài chúng ta, trong một làn gió đẫm hơi mưa thời gian

sự viên mãn của nữ tu là sống như trinh nữ và chết như thánh nhân

nhà thám hiểm bỏ những gì mình đào bới được vào những cái rương

đó là một vật lấy khước một con heo nhỏ với một trái tim / mà nàng mua ở chợ với giá trăm xu / trăm xu thôi thật tình cũng rẻ

chuyện đời tôi là chuyện một mối tình

 

 

liệu ta có thể xyz[8] với một cái nĩa? Liệu ta có thể bỏ một cái schmilblick[9] vào bình sữa trẻ em?

(tôi là người giỏi nhất, điều gì nói lên rằng tôi không phải người giỏi nhất, nếu vui vẻ thì bạn hãy cười lên, ça se corse, thủ phủ Ajaccio[10], bref, như Pépin vẫn nói, thoát rồi![11] Jonas vừa nói vừa bước ra khỏi bụng cá voi[12], c’est assez je cache à l’eau mon dauphin[13], những trò chơi chữ được nghe cả nghìn lần, bấy lâu nay chẳng còn gây ngạc nhiên hay buồn cười, chỉ khiến người ta khó chịu vì nhạt nhẽo và chỉ còn dùng để đảm bảo không khí đồng lõa trong gia đình, vốn rồi cũng sẽ biến mất theo sự tan vỡ của đời sống vợ chồng song đôi lúc vẫn trở lại trên môi, không đúng chỗ, khiếm nhã khi xa rời bộ lạc cũ, sau bao năm chia xa suy cho cùng đó là tất cả những gì còn lại)

những từ chữ ta lấy làm ngạc nhiên khi từ xa xưa chúng đã tồn tại, mastoc[14] (thư Flaubert gửi Louise Colet), pioncer[15] (George Sand gửi Flaubert)

tiếng Latin, tiếng Anh, tiếng Nga học trong sáu tháng với một người Xô Viết và những gì còn lại chỉ là svidania, ya tebia lioubliou, karacho[16]

hôn nhân là gì? là một “con promis”[17]

những ẩn dụ nhàm chán tới nỗi ta kinh ngạc khi thấy người khác vẫn dám dùng, trái xơ ri trên bánh ga tô[18]

ô Mẹ bị vùi chôn ngoài khu vườn đầu tiên[19]

đạp xe cạnh xe đạp trở thành đạp xe trong bắp cải muối rồi trong bột mì semolina rồi chẳng trong gì cả, những lối diễn đạt lỗi thời[20]

những từ đàn ông mà ta chẳng ưa, xuất, xóc lọ

những từ được học khi đi học, đem lại cảm giác chiến thắng sự phức tạp của thế giới. Thi xong, chúng lại đi đâu mất nhanh hơn cả lúc nhập vào

những câu nói lặp đi lặp lại, làm bực cả mình, của ông bà, bố mẹ, họ qua đời rồi, chúng còn sống động hơn cả gương mặt họ, con đừng nhúng mũi vào chuyện người khác[21]

nhãn mác những sản phẩm cũ, đời ngắn ngủi, mà ký ức về chúng khiến ta vui thích hơn cả ký ức về một nhãn hàng nổi tiếng, dầu gội Dulsol, sô cô la Cardon, cà phê Nadi, tựa một ký ức riêng tư, không thể chia sẻ

Khi đàn cò bay qua

Marianne thuở ta tươi trẻ

Bà Mặt trời[22] vẫn đâu đó giữa chúng ta

thế giới thiếu đức tin trong một sự thật siêu nghiệm

Mọi thứ rồi sẽ nhạt nhòa trong giây lát. Vốn từ tích tụ từ lúc còn nằm nôi tới giây phút cuối đời rồi sẽ mai một. Sẽ chỉ còn lặng im và không còn bất cứ lời nào để nói. Từ khuôn miệng hé mở chẳng còn gì thốt ra. Không tôi cũng chẳng tớ. Ngôn ngữ tiếp tục sắp đặt thế giới bằng từ chữ. Trong những trò chuyện quanh bàn ngày lễ ta sẽ chỉ còn là một cái tên, càng lúc càng vô diện, cho tới khi biến mất vào đám đông vô danh thuộc về một thế hệ xa xôi.

Mây Sao dịch

(Dịch từ bản tiếng Pháp Les années do Gallimard xuất bản)

[1] Phim của đạo diễn Henri Colpi, ra mắt năm 1961, tạm dịch: Một thiếu vắng lâu đến vậy

[2] Tạm dịch: Bé lon ton vững vàng với Babybotte Bébé

[3] Kinh hồi tưởng/tiền sử bệnh, người kế nghiệp, điều được tư duy, nhằm vào lý thuyết

[4] Không thể phủ nhận được rằng, buộc phải thừa nhận rằng

[5] Tiếng Latin trong nguyên bản, nghĩa là: vào thời gian này

[6] giày lót cũ, gây xáo lộn om sòm, có ích lắm đấy!, mày là một kẻ ngốc!

[7] “Il entassait adage sur adage;

Il compilait, compilait, compilait…”

Lời Voltaire nhận xét về Nicolas-Charles-Joseph Trublet, thành viên Viện Hàn lâm từ năm 1761 sau nhiều lần bị từ chối. Bachaumont cho rằng không phải các tác phẩm của Trublet mà chính những câu thơ của Voltaire mới khiến ông nổi tiếng.

[8] Tiếng Pháp trong nguyên bản: “tirlipoter”, động từ được dùng để thay thế động từ cần đoán trong trò chơi đặt câu hỏi mà câu trả lời chỉ có thể là “có” hoặc “không”.

[9] Nguyên văn trong bản tiếng Pháp, chỉ một món đồ tưởng tượng do danh hài Pierre Dac nghĩ ra vào năm 1950. Theo ông, vật này chẳng có ích gì nhưng lại dùng được trong mọi việc.

[10] Ajaccio là thủ phủ của đảo Corse, nhưng “ça se corse” thì không liên quan gì, câu này chỉ có nghĩa là “Phức tạp rồi đấy”

[11] “Bref” có nghĩa là “tóm lại”, liên tưởng đến Pépin le Bref, hay còn gọi là Pépin Lùn, vua nước Pháp

[12]

[13] Nguyên văn trong bản tiếng Pháp, có thể hiểu là “Đủ rồi, tôi giấu con cá heo của mình dưới nước”, song câu đầy đủ là “c’est assez, dit la baleine, je me cache à l’eau car j’ai le dos fin”, nghĩa đen là “đủ rồi, cá voi nói, tôi giấu mình dưới nước vì tôi có cái lưng mịn màng”, người Pháp dùng câu này như câu đồng âm khác nghĩa để dễ phát âm tên các loài động vật có vú sống dưới nước như cá voi, cá heo; chẳng hạn: “c’est assez” đọc gần giống “cétacé” nghĩa là “bộ cá voi”, “cache à l’eau” đọc gần giống “cachalot” nghĩa là “cá nhà táng”, “dos fin” đọc giống “dauphin” nghĩa là “cá heo”

[14] Ì ạch nặng nề

[15] Ngủ

[16] Tiếng Nga, lần lượt là: tạm biệt, anh yêu em/em yêu anh, ổn/khỏe

[17] Có nghĩa là “kẻ xuẩn ngốc được hứa hẹn”, song phát âm giống “compromis” nghĩa là “thỏa hiệp”

[18] Nguyên văn: “la cerise sur le gâteau”, chỉ chi tiết giúp hoàn thiện tổng thể

[19] Nguyên văn: “ô Mère ensevelie hors du premier jardin”,

[20] Nguyên văn trong bản tiếng Pháp: “pédaler à côté du vélo devenu pédaler dans la choucroute puis dans la semoule” đều có nghĩa là lầy lội, mất phương hướng hành động, suy nghĩ

[21] Nguyên văn trong bản tiếng Pháp: t’occupe pas du chapeau de la gamine”, nghĩa đen là “đừng bận tâm đến cái mũ của đứa con gái”

[22] Madame Soleil, nhũ danh Germaine Lucie Soleil, là một nhà chiêm tinh người Pháp.

 

 

 

Chấm sao chút:

Đã có 3 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3