Thời gian đọc: 18 phút

Zzz Blog trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một truyện ngắn mang đầy âm hưởng Borges của Gerald Murnane, người mà tờ Guardian gọi là “một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Úc mà bạn có thể chưa bao giờ nghe tới”. Từ vài năm nay Murnane được các chuyên gia dự đoán là người có khả năng sẽ giành được giải Nobel văn chương.

Tôi nghĩ về câu chuyện này lần đầu vào một ngày mưa phùn trong một tiệm sách cũ ở Prahan. Tôi là khách hàng duy nhất trong tiệm. Chủ tiệm sách ngồi gần cửa nhìn mưa và nhìn dòng giao thông bất tận. Có lẽ đây là tất cả những gì ông ta làm cả ngày. Tôi cũng thường đi ngang qua tiệm cũng như đi xuyên qua ánh nhìn của ông chủ; và trong khoảnh khắc giao mình với ánh nhìn ấy tôi bỗng hiểu cái cảm giác trở nên vô hình là như thế nào.

 

Vào cái ngày mưa phùn ấy tôi bước chân vào tiệm sách của ông ta lần đầu. (Tôi có mua kha khá sách cũ nhưng là mua từ mấy cuốn ca-ta-lô. Những tiệm sách cũ khiến tôi không vui. Nội việc đọc ca-ta-lô thôi cũng đã đủ sầu muộn rồi. Thế nhưng những quyển sách cũ tôi mua lại chẳng khiến tôi buồn. Lấy sách ra khỏi bưu kiện rồi đặt chúng lên kệ, tôi nói với chúng rằng cuối cùng chúng cũng tìm được nhà rồi. Tôi hay căn dặn bọn trẻ nhà mình rằng không được bán sách của bố khi bố chết đi. Các con của tôi không cần phải đọc sách nhưng chúng phải giữ sách trên kệ trong phòng, nơi mà thi thoảng người ta có thể ngó qua hay thậm chí là cầm sách lên một tí và tự vấn đôi điều về chúng.) Người đàn ông có liếc qua tôi lúc tôi bước vào tiệm nhưng rồi lại quay đi và hướng ánh nhìn vào chỗ cũ. Suốt thời gian tôi lục lạo quanh đám sách, ông ta chẳng buồn ngó ngàng tới tôi thêm lần nào.

 

Những quyển sách để lộn xộn, đóng đầy bụi, bị bỏ mặc. Vài cuốn chất đống trên bàn rồi cả trên sàn, trong khi chúng có thể được xếp vào kệ nếu ông chủ có để tâm chăm nom cửa tiệm của mình. Tôi nhìn qua khu vực phân nhãn VĂN HỌC. Trên tay tôi có cầm một trong số những quyển sổ mà tôi gọi là sổ mua sách. Nó là một quyển sổ được đề nhãn là 1900 – 1940 … Bị lãng quên bất công. Bốn mươi năm trên sổ không đơn thuần là bốn mươi năm đầu tiên của thế kỷ. Viết “1940 – 1900”, đó còn là bốn mươi năm đầu kể từ năm tôi ra đời trở ngược về cái thời tôi hằng nghĩ đến như là Thời đại Sách. Nếu như cuộc đời tôi được thuận theo hướng ấy thì có lẽ tôi đã không ở đây, không trú mưa trong một nghĩa địa sách, mà đang mải chú mục từng dãy từng dãy tường ken đầy những cảo bản bọc da, trong dinh thự riêng của tôi ở một đô thị sách. Hay có khi tôi lại là một nhà văn với bút lực đương độ sung mãn, toạ bên bàn giấy ngắm nhìn quang cảnh tựa một công viên qua những khung cửa sổ dài, tại một miền thôn dã của sách vở trong lúc chờ câu văn tiếp theo đến với mình.

 

Tôi lấy bốn hay năm tựa sách rồi đem đến gã đàn ông đang nhìn chăm chăm bên ngoài. Trong lúc ông ta kiểm tra giá sách được ghi bút chì ở các trang lót thì tôi chau mày quan sát ông ta. Ông này không hẳn già như tôi tưởng. Nhưng trên da ông ta có một sắc xám khiến tôi nghĩ đến rượu. Lá gan của gã bán sách hẳn gần rữa ra rồi, tôi tự nhủ. Gã khốn khổ này là một tay nghiện rượu.

 

Vào những ngày ấy tôi tin rằng mình cũng đang trên đà trở thành một kẻ nghiện rượu, và vì vậy tôi luôn chú ý đến những dấu hiệu báo trước mình sẽ trông ra sao trong vòng hai mươi năm, mười năm hay sớm hơn nữa. Nếu gã bán sách đã để mặc lá gan mình úng rượu như vậy thì tôi có thể hiểu vì sao ông ta hay ngồi nhìn mông lung đến thế. Cả ngày trời ông ta phải chịu đựng cái tâm trạng vẫn bao trùm lấy tôi mỗi chiều Chủ nhật, khi mà tôi đã nhấm rượu suốt bốn mươi tám tiếng đồng hồ rồi cuối cùng cũng phải dừng lại và cố tỉnh táo để viết cho xong bốn trang truyện phải hoàn thành mỗi tuần.

 

Trong tâm trạng chiều Chủ nhật của mình tôi thường ngừng viết để nhìn qua các kệ sách mình có. Trước lúc đêm buông tôi thường an phận rằng việc viết kiểu sách của mình tại thời điểm 1980 thật vô vọng. Kể cả khi cuối cùng sách của tôi được xuất bản, trong vài năm cũng được vài người đọc nó, thế thì kết cục sau rốt sẽ là gì? Sách của tôi sẽ ở đâu trong vòng, xem nào, bốn mươi năm? Hẳn đến lúc ấy tác giả của nó cũng chẳng còn để mà tìm câu trả lời. Hẳn là hắn đã vấy độc lên tế bào não cuối cùng của mình và đã ngỏm tỏi từ lâu. Trong số ít những quyển sách thực sự được mua, ít hơn nữa được xếp lên kệ. Rồi lại càng ít số quyển được mở ra, được ngó qua, và năm tháng cứ thế qua mau. Trong số những người sống đã thực sự đọc nó, có mấy ai thực sự còn nhớ được đôi chỗ trong quyển sách ấy?

 

Ở điểm này trong niềm tự vấn, tôi tưởng tượng ra một cảnh tượng đâu đó vào năm 2020. Đó là một chiều Chủ nhật (hoặc giả như một tuần làm việc đã ngắn lại như được dự đoán trước thì vào chiều thứ Hai hay hay thứ Ba). Ấy là một người đàn ông hao hao giống tôi, một người thất bại trong điều mình tham vọng nhất, đang đứng trước một bức tường đầy kệ sách giữa buổi chạng vạng âm u. Người đàn ông chưa hay biết điều này, nhưng ông ta tình cờ là người cuối cùng trên hành tinh này hãy còn giữ cái quyển sách được viết ra vào một chiều Chủ nhật xám bốn mươi năm trước. Quả thực ông ta đã đọc sách nhiều năm trước cái buổi chiều ông ta lục tìm nó trên kệ. Hơn thế nữa, ông ta vẫn còn loáng thoáng nhớ đôi điều viết trong sách.

 

Chẳng từ ngữ nào miêu tả được điều người đàn ông còn nhớ – nó quá mù mờ, quá khó nắm bắt giữa những dòng suy nghĩ khác. Rồi tôi dừng lại (dĩ nhiên là trong suy tưởng của riêng tôi, vào nhiều buổi chiều Chủ nhật) để tự hỏi rằng đó chính xác là gì, cái điều mà người đàn ông còn giữ lại từ quyển sách của tôi. Tôi tự trấn an mình rằng điều mà ông ta gần như nhớ ấy có tí chút khác biệt so với những thứ dật dờ trong bộ nhớ ông ta. Và tôi lại nghĩ đến bộ não của người đàn ông ấy.

 

Tôi hiểu biết rất ít về não người. Trong cả thảy ba nghìn quyển sách của tôi có lẽ chẳng có miêu tả nào về não bộ cả. Nếu có ai chịu thống kê từ đám sách ấy các danh từ chỉ bộ phận cơ thể, “não bộ” hẳn là có tỉ lệ rất thấp. Tôi đã mua ngần ấy sách, đọc gần phân nửa và vẫn luôn biện bạch cho sự đọc của tôi vì tôi tin rằng sách có thể dạy tôi mọi điều cần biết về cách con người ta tư duy và cảm nhận.

 

Tôi nghĩ lung về bộ não của người đàn ông đang đứng trước những kệ sách để cố nhớ lại: cố (dẫu ông không hay biết chi) phóng thích chút vết tích các trang văn của tôi – cứu dòng suy tưởng của tôi khỏi tuyệt diệt. Tôi biết rằng lối suy nghĩ ấy của mình theo nghĩa nào đó là sai. Nhưng tôi vẫn tin bộ não mình y như thế, vì tôi tin rằng não tôi giúp tôi tư duy; tôi không cho rằng một bộ não có thể quá khác biệt so với một bộ não đồng loại.

 

Tôi nghĩ về bộ não của người đàn ông nọ như một tổ hợp các tế bào. Mỗi tế bào tựa như một gian buồng tu sĩ của tu viện dòng Carthusian, được bao quanh bởi các bức tường cao, giữa tường trước và cửa trước là một mảnh vườn nho nhỏ. (Các tu sĩ Carthusian gần như là những ẩn sĩ; từng tu sĩ đều chịu sự cai quản của nhà dòng nhưng mỗi người đều dành phần lớn thời gian để đọc ở trong các gian buồng riêng hay đi chăm nom đám rau trong mảnh vườn giữa tứ bề tường bao.) Mỗi buồng đều là các kho chứa thông tin; buồng nào cũng ken đầy những sách.

 

Vài quyển sách được bọc vải với bìa áo bên ngoài nhưng phần đa đều là sách bọc da. Thế nhưng áp đảo lượng sách lại là các bản thảo viết tay. (Tôi gặp rắc rối với việc đọc các bản viết tay. Một quyển trong đám sách của tôi – ở trong phòng, chiều Chủ nhật xám – chứa ảnh chụp lại vài trang của một văn bản chép tay có minh hoạ. Tôi tự hỏi rằng một tập nhiều trang chép như thế sẽ trông ra sao và nó sẽ được đóng lại như thế nào. Tôi cũng chẳng mường tượng được làm sao mà lưu trữ một loạt các tuyển tập đóng từ nhiều trang chép như thế – xếp ngửa chồng lên nhau? xếp đều cạnh nhau? xếp đứng thành hàng như những quyển sách bọc vải trên kệ nhà tôi? Tôi cũng không biết món tủ kệ nào sẽ chứa đựng hoặc trưng bày chỗ bản thảo ấy. Cho nên dẫu vẫn hình dung được cảnh từng thầy tu có thể tìm được những sách cần ở những kệ cận hiện tại hơn, khi tôi hình dung đến cảnh ông xoay mòng giữa núi sách của thư phòng đồ sộ, tôi chỉ thấy một màu xám: xám áo choàng thầy tu, xám của tường đá gian buồng, của bầu trời trông qua ô cửa sổ bé, xám của những dòng chữ nhờ nhờ vô minh.

 

Có khá ít các thầy tu dòng Carthusian trên thế giới – ý tôi là cái thế giới bên ngoài khung cửa sổ của tôi, bên dưới bầu trời xám chiều Chủ nhật. Nói như thế chỉ là lặp lại lời một linh mục từng nói với tôi ở trường cấp hai tầm ba mươi năm trước, thời tôi còn mơ trở thành một thầy tu sống giữa một thư viện có khoảng vườn và một bức tường bao quanh. Ngoài câu trả lời mơ hồ của vị linh mục nọ, thông tin duy nhất tôi có về dòng Carthusian đến từ một bài báo trên tờ Tạp chí Địa lý. Nhưng bài báo ấy được ấn hành vào tận thập niên 1930, lúc tôi còn đang bập bẹ tập đọc trong cái quãng đời dẫn trở ngược về Thời đại Sách. Hiện tại tôi chẳng thể xem lại bài báo ấy vì tất thảy tạp chí cũ đều đã được gói lại trong túi rác nhựa màu xám và cất trên trần nhà. Ba năm trước tôi đã để chúng ở đấy với tầm bốn trăm quyển sách mà tôi không đọc lại lần nào nữa – kệ sách của tôi cần nhiều không gian hơn cho những quyển mới mua.

 

Điều tôi nhớ nhất về mục báo ấy là nó chỉ độc những chữ chứ không in kèm ảnh. Ngày nay tờ Tạp chí Địa lý được lấp đầy phân nửa bằng ảnh màu. Thỉnh thoảng tôi lại bỏ qua những dòng biệt ngữ ngắn trong các bài báo và tìm thấy điều mình cần ngay ở các dòng chú thích in bên dưới ảnh. Nhưng tạp chí của những năm 30 (đang nằm dưới ánh chạng vạng, trong túi nhựa xám trên trần nhà quá đầu tôi) thì toàn là các mục tin này nọ mà chẳng có lấy một ảnh minh hoạ. Tôi hình dung tác giả của các bài báo này là những gã mọt sách chuyên mặc quần áo vải tuýt, vừa trở về nhà sau những cuốc dạo giữa các hàng giậu, đến ngồi bên bàn giấy trong thư phòng và viết ra (bằng bút máy với đôi chỗ gạch xoá) những tiểu luận diễm tuyệt, các bài báo đáng nể cùng những hồi ký hay ho. Tôi nhìn thấy những tác giả ấy rất rõ. Tôi đã vô cùng thân thuộc với họ vào thời điểm thập niên 20 qua đi và Chiến tranh Thế giới đã lù lù trước mắt tự lúc nào. Khi những quý ngài tác giả ấy gửi những áng văn bay bướm của mình cho biên tập viên, họ cũng chẳng gửi kèm tranh ảnh minh hoạ nào. Thực ra thì các quý ngài ấy còn vênh vang về việc mình mù tịt cách sử dụng máy ảnh, máy hát hay các thiết bị hiện đại khác, thế nhưng độc giả lại mến họ chính vì sự lập dị duyên dáng ấy. (Tôi chưa từng học cách sử dụng máy ảnh hay máy thâu băng nhưng khi tôi kể chuyện này thì người ta lại nghĩ tôi cố tình làm đỏm để gây chú ý.)

 

Tôi không nghĩ các thầy tu dòng Carthusian lại đi từ chối việc một quý ngài tác giả đến chụp vài tấm ảnh tu viện, vì lẽ đó tôi tin rằng tác giả của bài báo hẳn rất tự tin rằng từ ngữ và câu văn của mình có thể diễn đạt rõ ràng những thứ ông ta thấy. Tu viện toạ lạc ở Surrey hoặc có thể ở Kent. Điều này khiến tôi thất vọng một chút. Lần đầu đọc bài báo tôi không còn ôm mộng trở thành thầy tu, thế nhưng tôi vẫn thích mơ mộng về các thầy tu sống đời ẩn sĩ giữa những cảnh vật hẻo lánh; Surrey hay Kent là những chốn quá đông đúc đối với những giấc mơ về các thư viện thanh tĩnh. Tên địa danh duy nhất mà tôi còn nhớ từ bài báo là Parkminster. Tôi tra trong cuốn Atlas Niên đại Thế giới nhưng không tìm thấy tên Parkminster trong chỉ mục. (Khi tra tên tôi lờ mờ nhớ trước đó mình cũng đã tìm như thế vài ba lần nhưng kết quả thì vẫn vậy.) Vì thế Parkminster có thể là một thôn làng vốn quá bé để được điểm danh trên bản đồ; hay có khi chính tu viện được gọi là Parkminster và các tu sĩ đã yêu cầu tác giả không đề cập đến bất cứ tên địa danh nào trong bài báo vì họ không muốn gian buồng của mình bị nhòm ngó bởi các vị khách tham quan tò mò.

 

Nhưng cho dẫu thế nào chăng nữa, bài báo xuất bản vào thập niên 30, và theo như tôi biết thì các tu sĩ Carthusian cùng các gian buồng cũng như cái tên “Parkminster” có lẽ đã trôi dạt về Thời đại Tu viện còn tôi có thể là người cuối cùng còn nhớ họ hay chí ít là những gì tôi đã viết về họ.

 

Rồi tôi lại nghĩ về người đàn ông đang kiếm tìm trong các kệ sách của mình, một chiều xám năm 2020, tôi thấy những con đường rải sỏi rộng có nhiều bóng cây: cả một khu vực chuyên biệt có những con đường với các gian buồng bên vệ, trong mỗi buồng là một thầy tu được bao quanh bởi sách và những bản chép tay.

 

Người đàn ông ở kệ sách – kẻ cuối cùng còn nhớ đến quyển sách của tôi – không những không thể nhớ điều mình từng đọc trong sách tôi mà còn chịu chẳng nhớ nổi mình đã trông thấy nó lần cuối ở chỗ nào trên kệ. Ông cứ đứng mãi đó và cố nhớ lại.

 

Một thầy dòng bước trên một lối đi trong tu viện. Các thầy dòng hiến thân mình trong những lời thề thiêng liêng với tu viện, tương tự các tu sĩ khác nhưng đặc quyền cũng như nghĩa vụ của họ có chút khác biệt. Là một thầy thì không gắn bó quá nhiều vào căn buồng riêng, hằng ngày khi các tu sĩ thuộc hàng linh mục vẫn đang đọc sách trong buồng, đọc kinh phụng vụ hay chăm vườn, các thầy đại khái là làm việc cho tu viện: họ nhận các tin nhắn, các chỉ dẫn hay thậm chí là thương thảo với thế giới bên ngoài theo hình thức hạn chế nhất. Mỗi thầy dòng đều thạo đường đi nước bước ở các khu vực cận tu viện; trong địa hạt riêng của mình, thầy nắm rõ tu sĩ nào ở sau bức tường nào. Một cách khái quát, thầy dòng còn biết những tu sĩ ẩn dật giữ thứ gì trong thư phòng của mình: họ đã dành cả ngày để đọc các tựa sách và bản thảo nào. Một thầy dòng chẳng sở hữu mấy đầu sách, nghĩ về sách theo cách giản lược và thuận tiện nhất. Thầy học cách gọi chuẩn tên những tựa sách mình sẽ chẳng mở ra hoặc chẳng trông thấy bao giờ, trong khi một tu sĩ trong gian buồng có thể dành cả năm trời để đọc một quyển sách nhất định hay là sao chép cũng như nhuận sắc thêm cho một bản thảo nào đó để rồi sẽ nghĩ về nó suốt đời như một ảnh tượng bao la hình thành từ các trang sách cầu vồng và các ký tự viết hoa cứ thế xoáy vòng vào nội hàm và từng làn chữ nghĩa dài như những con đường của các tu viện khác mời mọc người mơ về các gian buồng đầy sách và những bản thảo của chúng.

 

Một thầy dòng bước đi dọc theo một con đường của tu viện. Thầy phải đảm nhiệm một việc vặt nhưng thầy không vội. Điều này rất khó giải thích với những ai mù tịt về tu viện. Các tu sĩ sau bức tường nhìn thời gian trôi khác với người của thế giới bên ngoài. Trong khi dường như mới chỉ vài khắc giây vừa trôi đi trong một chiều xám bình đạm bên ngoài tu viện, một tu sĩ ở bên kia bức tường đã có thể lần giở hết trang bản thảo này đến trang bản thảo nọ, giữa các lần giở trang là những quãng ngừng dài. Bí ẩn này sẽ chẳng bao giờ được giải đáp vì không ai có thể vừa ở bên trong vừa ở bên ngoài một tu viện.

 

Thế nên thầy dòng chẳng vội gì cả. Thầy đứng đấy xuýt xoa đám rau và rau thơm trong mỗi khoảnh vườn của từng gian buồng mà thầy nhận lệnh ghé tới. Khi mỗi tu sĩ bước ra cửa, thầy sẽ hỏi tu sĩ một câu như lệ thường hoặc dạng câu hỏi không kèm theo vẻ thúc giục nào. Thầy bảo rằng thầy sẽ quay lại để gọi vào ngày hôm sau hay có thể là hôm sau nữa. Trong lúc ấy, nếu tu sĩ có thể tra cứu được thông tin cần thiết trong những pho sách hoặc những bản thảo của mình…

 

Tất nhiên là có nhiều hơn một thầy dòng, có thể lên đến hàng trăm hàng ngàn thầy đang sải bước dài hoặc bước thong thả qua những con đường tu viện rợp lá trong khi độc giả cuối cùng của tôi miết một ngón tay dọc theo loạt gáy sách và cố nhớ lại một điều gì từ quyển sách tôi viết ra. Dù tôi biết các thầy dòng thường di chuyển qua lại chủ yếu ở một góc nhất định hoặc ở một khu vực nào đó của tu viện, tôi vẫn biết rằng còn có nhiều và nhiều khu vực hơn thế. Ở một trong những khu vực ấy, vào một chiều Chủ nhật xám khi tôi không biết nên đi sáng tác hay ngồi nhấm nháp một chút – ngay ở một trong những khu vực ấy, tôi đã quyết rằng trong một gian buồng xám chẳng khác chi với những tường xám dọc đường trong các khu vực xung quanh đấy, nằm cô nhàn qua những buổi chiều tịch mịch trong một tuyển tập các bản thảo là một trang mà trong ấy có một tu sĩ đã từng đọc hoặc viết nên điều mà người đàn ông của năm 2020 rất muốn nhớ lại. Chính vị tu sĩ cũng quên mất phần đa những thứ mà ông đã đọc hoặc viết. Có lẽ nếu được nhờ vả, ông sẽ tìm lại được đoạn văn ấy giữa các trang sách ông từng đọc và viết ra suốt những năm tháng viết đọc trong gian buồng. Thế mà chẳng thầy nào đến nhờ ông tìm trang sách ấy. Bên ngoài những tường xám trong những chiều xám, chẳng có bước chân nào vọng tiếng.

 

Người đàn ông không thể nhớ điều ông ta từng đọc từ sách tôi. Ông không nhớ mình đã vùi tập sách mỏng tôi viết nơi nao trên các dãy kệ. Ông rót đầy ly lần nữa rồi lại nhấm nháp thứ độc dược đắt tiền của thế kỷ hai mươi mốt. Ông ta đâu hiểu tầm quan trọng của thiên quên lãng ấy nhưng tôi thì có. Tôi biết rằng từ đây sẽ chẳng ai còn nhớ điều gì từ những trang viết của tôi.

 

Thế nên vào nhiều Chiều chủ nhật, tôi hay bỏ trang viết của mình vào tập. Chẳng thể nào ép mình viết ra những thứ rồi sau rốt sẽ trở thành một khoảng xám trong chồng bản thảo dật dờ.

 

Trở lại tiệm sách, tôi thanh toán tiền sách và bỏ lại túi ít tiền lẻ. Mấy cuốn sách vẫn nằm trên bàn nơi ông chủ xếp chúng lên để xem giá. Ông ta chờ tôi đem sách đi để lại được tiếp tục nhìn chăm chăm nhưng tôi lại muốn nói gì đó. Tôi muốn đảm bảo với ông ta rằng mấy quyển sách sẽ yên ổn trong nhà mới. Vài quyển trong số chúng chính là những tựa tôi muốn có bấy lâu nay – những quyển sách bị quên lãng một cách bất công giờ đây sẽ được đọc và được ghi nhớ.

 

Quyển trên cùng có tên Phúc Hoạ của nhà văn Mary Webb. Tôi chạm tay vào tấm bìa áo đã ngả vàng rồi bảo ông chủ tôi tìm quyển này đã lâu; và tôi sẽ đọc nó sớm thôi.

 

Ông bán sách không nhìn tôi hay nhìn quyển sách mà nhìn mưa. Gương mặt vẫn hướng về vùng xám bên cửa sổ, ông ta bảo ông ta biết quyển Phúc Hoạ rõ chứ. Nó từng là một quyển nổi tiếng vào thời ấy. Ông ta đã từng đọc sách nhưng giờ hầu như không còn nhớ gì, nhất là giờ đây sức khoẻ của ông chẳng được như trước nữa. Nhưng có gì quan trọng đâu, ông nói, anh không nhớ gì từ một quyển đã đọc cũng chẳng thành vấn đề gì. Điều quan trọng là anh đã đọc sách, đã giữ nó lại trong anh. Nó vẫn nằm đâu đó bên trong đấy, ông nói. Nó được giữ gìn vẹn nguyên. Ông nhấc cánh tay như thể muốn chỉ vào một điểm cụ thể nào đó trên hộp sọ nhưng lại thả tay về nơi nó vẫn ngự khi ông nhìn chăm chăm ra ngoài.

 

Tôi đem sách về, nhập tựa sách và tên tác giả vào quyển ca-ta-lô của mình rồi sau đó sắp sách vào thư phòng theo thứ tự abc theo đúng họ của tác giả.

 

Vào Chủ nhật tiếp theo, đến lúc phải ngừng nhấp rượu và bắt đầu viết, tôi lại nghĩ về người đàn ông của năm 2020, ông ta lại cố và lại vẫn thất bại trong việc nhớ về cuốn sách tôi viết bốn mươi năm trước. Thế nhưng khi ông bước ra khỏi kệ để về ngồi nhấm rượu, tôi biết rằng sau tất cả sách của mình vẫn được giữ gìn vẹn nguyên.

 

Rồi tôi nghĩ về tu viện và chợt nhận ra bầu trời bên trên đã đổi thay. Có một ánh vàng trong không trung, không hẳn là sắc vàng của nắng trời; nó giống kiểu vàng trầm trên bìa cuốn sách bị quên lãng một cách bất công của Mary Webb, vàng hổ phách của bia hay vàng của rượu whiskey mùa thu. Tia sáng từ trời khiến tu viện thêm phần khiết tịnh. Các thầy dòng đi từ gian buồng này sang gian buồng khác, giống tản bộ hơn là đi bình thường. Những thầy tu đang ở trong buồng, đang tìm một đầu sách hay một bản thảo với dáng điệu hoàn toàn điềm tĩnh và khoan thai. Khi vị tu sĩ cầm một trang lên để xem kĩ, ánh sáng từ cửa sổ đọng vàng lung linh trên những nét bút trổ cầu kì hay trên những ký tự hoạ màu mở đầu, và không chút khó khăn, tu sĩ tìm ra thứ ông được yêu cầu.

 

Vào chiều hôm đó cũng như nhiều Chiều chủ nhật về sau, tôi thường viết khi nhấp rượu. Đến lần kế tiếp tôi ghé hiệu sách là tôi đã viết trong suốt nhiều Chủ nhật của sáu tháng trời.

 

Sau khi thanh toán tiền, tôi bảo ông chủ tiệm tôi là một nhà văn. Tôi kể rằng tôi vẫn viết vào các Chủ nhật kể từ lần cuối tôi gặp ông. Đến mùa đông sắp tới có lẽ tôi sẽ hoàn tất cuốn sách đang viết. Và đến mùa đông sau nữa thì sáng tác của tôi sẽ được lưu giữ thành một quyển sách. Tôi muốn bìa sách của mình có màu vàng nhũ nổi bật, tôi nói tiếp, dẫu ông chủ có vẻ chẳng mấy bận tâm. Tôi không quan tâm tấm bìa áo bên ngoài màu gì, nhưng khi bốn mười năm qua đi và bìa áo bị rách hoặc mất đi còn quyển sách bị xếp ở xó xỉnh trong một tiệm sách như tiệm này, tôi muốn màu vàng trên gáy sách tôi phải nổi lên giữa những sắc xám và xanh lá và xanh biển đậm của những quyển sách sắp sửa chìm vào lãng quên.

 

Tôi kể những điều này với ông chủ trong khi ông ta vẫn tiếp tục nhìn ra ngoài nắng như thể đó vẫn là cái khoảng xám ông từng nhìn lúc ông nói với tôi về những quyển sách ông không thể nào quên. Nhưng giờ đây ông ta không trấn an tôi. Ông nói rằng mình thuộc nòi sắp tuyệt chủng rồi. Trong bốn mươi năm tới sẽ không còn tiệm sách nào như thế này nữa. Nếu người thời nay muốn lưu trữ những thứ từng hiện diện trong sách thì họ sẽ trữ trong máy vi tính: trong hàng triệu vi mạch trong các con chip silicon trong máy tính.

 

Ông chủ nhấc tay lên, ngón cái và ngón trỏ của ông ta làm thành một gọng kìm, có một khoảng hở nhỏ giữa lòng của hai ngón tay, ông giữ ngón tay ngược sáng rồi nhìn vào khe sáng giữa chúng. Sau đó ông buông tay rồi lại quay lại nhìn chăm chăm như thông thường.

 

Vào Chủ nhật sau đó tôi không viết tiếp những dòng mà tôi vẫn muốn sẽ trở thành một quyển sách có bìa vàng nhũ trầm. Tôi ngồi nhấm rượu và nghĩ về mạch và chip silicon. Tôi mường tượng silicon có màu xám, sắc xám của đá hoa cương bị ướt mưa giữa một bầu trời xám. Thế rồi tôi hình dung một vi mạch như một mạng lưới những đường vàng trên nền xám. Tôi nhận ra những đường vàng vi mạch tạo thành ảnh hình không khác gì những lối đi của một tu viện. Những vi mạch chừng như xa lạ với tôi hơn một tu viện. Nhưng ảnh hình thì tương tự nhau. Tôi chỉ trông thấy những vệt nhũ vàng mờ trên nền xám nhưng tôi đồ rằng ánh vàng đến từ những ngọn cây san sát ở hai bên vệ những con đường dài của mạch. Thời tiết của mạch sẽ là một buổi chiều thu thanh tĩnh bất tận, tiết trời lý tưởng nhất để nhớ.

 

Tôi vẫn chưa mường tượng được những ai sẽ bước đi bên dưới sắc vàng mùa thu đang toả lan. Nhưng sau vài chiều Chủ nhật kể từ những ý nghĩ đầu tiên của tôi về mạch, tôi bắt đầu viết về một tu viện nơi một trang viết có thể đang vị vùi sâu dưới một chồng bản thảo trong một căn phòng xám, nhưng trang viết ấy sẽ không bao giờ bị mất đi hay quên lãng. Như tôi đã viết, tôi tin rằng chính trang viết của tôi, ghi chép về tu viện của tôi, sẽ mãi mãi an toàn trong một thư phòng vô tưởng dưới những vòm cây vàng của một thành phố mạch. Tu viện ấy, tôi viết, chỉ là một tu viện trong câu chuyện, nhưng khi câu chuyện được an toàn thì cả tu viện lẫn mọi sự bên trong nó cũng thế. Tôi nhìn câu chuyện, tu viện, mạch, câu chuyện, tu viện, mạch… cứ mãi trôi dần theo cùng một hướng với cái cảnh đời mà lẽ ra đã dẫn tôi về Thời Hoàng kim của Sách.

 

Nhưng khi viết tôi nhận ra rằng, hẳn thế rồi, tu viện ấy không là bất diệt. Ở đâu đó xa xa phía bức tường tu viện, một sắc xám khác đã khởi sự: sắc xám trên vùng đất của bọn mọi, các thảo nguyên vô lối nơi người ta sống không có sách.

 

Không phải bọn người ấy lúc nào cũng ở yên trong thảo nguyên của mình: Thời đại Sách không kéo dài mãi. Rồi đến một ngày bọn mọi sẽ gom hết ngựa của mình lại để tiến về tu viện rồi đảo chiều cái lịch sử mà tôi vẫn hằng mơ về.

 

Tôi ngừng viết. Tôi rót một ly nữa rồi nhìn sâu vào sắc màu thẫm của cái ly. Rồi tôi đọc đoạn đã viết của câu chuyện thành tiếng, dừng lại đây đó để nhấp chút rượu, sau mỗi ngụm lại nhìn ngắm hoàng hôn vàng phớt đỏ trên bầu trời ở phía tất thảy những gì tôi còn nhớ.

Huy Nguyễn dịch

Chấm sao chút:

Đã có 5 người chấm, trung bình 4.8 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Huy Nguyễn
Các bài viết khác

Rể trời.