Thời gian đọc: 15 phút

I.

Có tin: Họ sẽ đến

Một sáng cuối tháng Mười, không lâu trước khi những giọt mưa mùa thu dai dẳng rơi xuống mặt đất khô khốc, nứt nẻ bên sườn phía Đông của khu trại (để rồi cái biển bùn hôi thối biến những con đường mòn trở thành không thể đi lại nổi cho tới khi nó đóng băng lần đầu tiên, và thành phố cũng trở nên không thể tiếp cận nổi), Futaki thức giấc vì nghe thấy tiếng chuông ngân. Gần đây nhất, cách bốn cây số về phía Tây Nam, ở khu đất Hochmeiss cũ có một nhà nguyện đơn độc, nhưng ở đó làm gì có chuông, đến ngọn tháp cũng đã sập từ thời chiến tranh, thành phố thì ở cách đây quá xa để có thể vọng tới bất cứ tiếng động nào. Và hơn nữa, những tiếng bing boong âm vang này không gợi đến tiếng chuông vọng từ xa, mà có vẻ đến theo gió đưa từ đâu đó rất gần (“Hình như từ phía cối xay…”). Gã chống khuỷu tay lên gối, nhìn qua cái lỗ nhỏ bằng con chuột trên cửa sổ bếp, nhưng phía sau tấm kính mờ vì hơi nước, khu trại tắm trong thứ ánh sáng xanh lúc trời rạng sáng và trong tiếng chuông mỗi lúc một lặng dần vẫn im ắng không động tĩnh: phía bên kia, chỗ các ngôi nhà đứng cách xa nhau, chỉ thấy ánh sáng lọt qua cửa sổ đã buông rèm của nhà ông bác sĩ, cũng chỉ bởi chủ nhân của căn nhà, từ nhiều năm nay, không thể nào ngủ được trong bóng tối. Gã nín thở để lắng nghe dù chỉ một âm thanh lạc điệu duy nhất trong tiếng chuông đang lịm dần, vì muốn biết sự thật (“Chắc ngươi còn đang ngái ngủ, Futaki…”), và để biết, gã cần đến mỗi tiếng động, dù đó là một âm thanh côi cút. Bằng những bước chân mềm, nhẹ như mèo, gã tập tễnh đến bên cửa sổ trên nền gạch lát nền bếp lạnh như băng (“Không ai thức giấc cả sao? Không ai nghe thấy gì? Không một ai?”), gã mở cánh cửa sổ, thò đầu ra ngoài. Không khí lạnh buốt, ẩm ướt ập tới, khiến gã nhắm mắt lại trong tích tắc; trong tiếng gà gáy, tiếng chó sủa vu vơ từ xa và tiếng rít dữ dội của cơn gió mới nổi lên trước đó mấy phút gã hoài công dỏng tai nghe, gã chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng đập của trái tim mình, dường như tất cả chỉ là trò đùa ma quỷ của giấc mơ trong cơn nửa mê nửa tỉnh, (“… Hình như có ai đó muốn dọa ngươi”). Gã chán nản nhìn bầu trời như một điềm gở, những thứ khô cháy còn lại sau một mùa hè bị nạn châu chấu tàn phá, và bất chợt gã như thấy cả bốn mùa xuân hạ thu đông lướt qua trên ngọn cây keo, như thể gã cảm thấy tất cả thời gian chỉ làm trò trong quả cầu bất động của vĩnh hằng, một trò ảo thuật khéo léo để tạo ra một thứ trật tự từ sự hỗn loạn, để biến sự điên loạn thành cần thiết… và gã nhìn thấy bản thân mình, trên cây thập ác của chiếc nôi và chiếc quan tài của chính gã, đau đớn rùng mình một cái, để cuối cùng tự giao nộp mình – hoàn toàn trần trụi và không một dấu vết nhận dạng – cho những kẻ tắm rửa xác chết, những kẻ thực hiện công việc trong bầu không khí lạnh lùng trên cái nền cảnh ồn náo nơi những kẻ tra tấn hành hạ da thịt con người, nơi gã phải nhìn nhận một cách không thương tiếc tình trạng con người, mà không có dù chỉ một lối mòn duy nhất dẫn gã quay trở lại, và khi đó thì gã biết rằng, gã đã dính vào ván bài với bọn cờ bạc bịp, ván bài đã được dàn xếp trước từ lâu, và đến cuối thì chúng đã tước đi của gã cả thứ vũ khí cuối cùng là hy vọng, rằng có lúc gã sẽ tìm thấy con đường trở về nhà. Gã quay đầu sang bên, về phía những ngôi nhà nằm ở phía Đông của trang trại, một thời đông đúc và náo nhiệt, hiện giờ đổ nát và hoang tàn, và gã cay đắng nhìn những tia nắng đầu tiên của vầng mặt trời phồng to, đỏ rực chiếu qua giữa những thanh xà trên nóc một ngôi nhà trơ trọi, xiêu vẹo. “Cuối cùng thì đã đến lúc ngươi phải quyết định. Ngươi không thể ở lại đây.” Gã quay lại, chui vào tấm chăn ấm, gối đầu lên cánh tay, nhưng gã không nhắm mắt được nữa: tiếng chuông ma quỷ làm gã sợ, sự yên lặng bất chợt này còn đáng sợ hơn, sự im ắng đe dọa này, vì gã cảm thấy sau đây mọi chuyện đều có thể xảy ra. Nhưng chẳng có gì động đậy, và gã cũng không động đậy trên giường, cho tới khi những đồ vật xung quanh gã bỗng nhiên bắt đầu một cuộc đối thoại kỳ lạ nào đó (chiếc tủ bếp rung lên cọt kẹt, cái nồi lách cách, một chiếc đĩa sứ trượt về chỗ), khi đó gã bất ngờ xoay nghiêng người, quay lưng lại mùi mồ hôi phả ra từ cô vợ Schmidt, một tay rờ tìm cốc nước để sẵn bên cạnh giường, và uống hết một hơi. Và thế là gã thoát khỏi nỗi sợ hãi trẻ con này; gã thở dài, lau trán đẫm mồ hôi, và bởi gã biết rằng lúc này Schmidt và Kráner đang xua đàn gia súc từ Szikes về khu chuồng của Nông Trang nằm ở phía Bắc trang trại, nơi sau đó cuối cùng thì họ cũng nhận được món tiền trả cho tám tháng lao động cực nhọc, và vì vậy từ đó còn mất vài tiếng đi bộ nữa họ mới về tới nhà, gã quyết định ngủ thêm chút nữa. Gã nhắm mắt, quay lại ôm lấy người đàn bà, và đã thiu thiu ngủ thì gã lại nghe thấy tiếng chuông. “Mẹ kiếp!” Gã gạt tấm chăn sang bên, vừa đúng lúc gã chạm đôi chân trần sần sùi xuống nền bếp lát gạch thì tiếng chuông ngừng bặt, (“như thể có người nào đó ra hiệu…”). Gã ngồi cúi gập người cạnh giường, hai tay đan vào nhau để trước bụng, ánh mắt dừng lại chỗ chiếc cốc trống không; cổ gã khô khốc, chân phải đau nhức, và cả nằm xuống, cả đứng dậy gã cũng không dám. “Chậm nhất ngày mai ta sẽ đi.” Gã nhìn suốt lượt những thứ đồ gỗ khả dĩ còn dùng được trong gian bếp sơ sài, chiếc bếp lò bẩn thỉu dính đầy mỡ và thức ăn rơi vãi, chiếc bàn cập kênh, những bức tranh thánh bụi bặm treo trên tường, đống nồi niêu ngổn ngang trong góc gần cửa ra vào, cuối cùng gã lại gần ô cửa sổ nhỏ đã sáng dần, nhìn mấy cành keo trơ trụi ngả về phía gã, nhìn cái mái nhà trồi sụt của gia đình Halics, cái ống khói đổ nghiêng có làn khói đang tuôn ra, và gã nói: “Ta lấy phần của ta, và ngay tối nay!… Chậm nhất là ngày mai. Sáng mai.” “Ôi, lạy Chúa!” – cô vợ Schmidt ngồi dậy bên gã; hốt hoảng đưa mắt nhìn quanh căn bếp một lượt, cặp vú ả phập phồng, nhưng khi thấy mọi thứ vẫn nguyên như cũ, ả thở hắt ra nhẹ nhàng, và đổ người xuống gối. “Sao thế, cô mơ thấy điềm gở à?” – Futaki hỏi. Vợ Schmidt vẫn dán mắt nhìn lên trần với đôi mắt sợ sệt. “Lạy Chúa, chứ còn gì nữa!” – ả lại thở dài đặt tay lên ngực. “Lại đến thế nữa!… Anh thử tưởng tượng xem… Em ngồi trong phòng, và… bỗng nhiên có ai đó gõ ngoài cửa sổ. Em không dám mở, chỉ dám lại gần và ghé nhìn qua qua tấm rèm. Nhưng chỉ nhìn thấy tấm lưng, vì hắn đang đấm tay nắm cửa và cái miệng hắn đang gào lên, nhưng không thể hiểu hắn gào gì… Mặt hắn râu ria xồm xoàm, hai mắt hắn như mắt thủy tinh… thật kinh khủng… Sau đó em nhớ ra là buổi tối em chỉ vặn chìa khóa cửa có một vòng, nhưng em biết rằng khi mình ra đến cửa thì đã muộn… vì thế em đóng vội cửa bếp lại, nhưng em chợt nhớ cửa bếp không có chìa khóa… Em bắt đầu kêu gào, nhưng không một âm thanh nào thoát ra khỏi cổ. Sau đó… em không nhớ, nhưng… đột nhiên thấy vợ lão Halics nhìn vào cửa sổ, và cười… anh biết đấy, khi cười nom mụ ấy thế nào?… Tóm lại là mụ nhìn vào bếp… và rồi sau đó em không nhớ… mụ biến mất… nhưng khi đó thì lại có tiếng đạp cửa ở phía ngoài, em biết chỉ một phút nữa là mụ đạp tung cánh cửa, và em nhớ tới con dao cắt bánh mì, em lao nhanh tới chỗ chiếc tủ bếp, nhưng ngăn kéo bị kẹt, và em cứ lôi mãi… em tưởng mình sẽ chết thảm vì sợ hãi… rồi em nghe tiếng cánh cửa đổ đánh rầm, có người đã đi vào hành lang… em vẫn chưa mở được cái ngăn kéo… và nó đã tới chỗ cửa bếp… cuối cùng em đã mở được ngăn kéo, lấy được con dao ra, còn kẻ kia thì bắt đầu quờ quạng tiến lại gần… nhưng em không biết… bỗng nhiên thấy hắn nằm ở góc nhà, dưới cửa sổ… đúng, một đống nồi xanh đỏ ở cạnh hắn, đống nồi bay tứ tung trong bếp… và khi đó em cảm thấy sàn nhà bắt đầu chuyển động dưới chân mình, và anh thử tưởng tượng xem, cả căn bếp bắt đầu chuyển động như một chiếc ô tô… bây giờ thì em không biết nữa, chuyện đó thế nào…” – cô ả kết thúc, và ả cười như trút được gánh nặng. “Khỉ thật!” – Futaki lắc đầu. “Còn tôi thì, cô tưởng tượng xem, tôi thức giấc và nghe thấy tiếng chuông…” “Tiếng chuông? Ở đâu?” “Tôi cũng không biết nó đến từ đâu. Mà hai lần kế tiếp nhau…” Cô vợ Schmidt cũng lắc đầu. “Rồi anh đến phát điên lên mất.” “Hay là tôi chỉ mê ngủ thôi? – Futaki lẩm bẩm. – Cô hãy để ý xem, hôm nay chắc sẽ có chuyện.” Người đàn bà giận dữ quay lưng lại. “Lúc nào anh cũng nói thế, anh có thể bỏ kiểu ăn nói đó đi.” Đúng lúc đó, đột nhiên họ nghe thấy tiếng cọt kẹt của cổng sau. Cả hai hốt hoảng nhìn nhau. “Đây chắc là hắn – vợ Schmidt thì thầm. – Em cảm thấy thế.” Futaki ngồi dậy vẻ căng thẳng. “Không thể như thế được! Bọn nó chưa thể về tới đây…” “Em làm sao biết được…! Anh biến đi!” Gã nhảy phắt khỏi giường, túm quần áo kẹp dưới nách, vội vàng đóng cửa phòng lại và bắt đầu mặc quần áo. “Cái gậy của tôi. Tôi bỏ cái gậy ở ngoài rồi.” Nhà Schmidt đã không dùng đến phòng này từ độ mùa xuân. Đầu tiên, rêu xanh bắt đầu phủ kín tường, quần áo trong chiếc tủ mòn cũ nhưng bao giờ cũng được lau chùi sạch sẽ bắt đầu mốc rêu, tất cả khăn tắm và đồ trải giường, mấy tuần sau dụng cụ ăn cất riêng cho những dịp lễ lạt bắt đầu han gỉ, chân chiếc bàn lớn phủ tấm ren bắt đầu long, và các rèm cửa chuyển màu vàng, và đến một hôm điện cũng mất, thì họ chuyển hẳn vào bếp, để cho phòng ngủ trở thành đế chế của chuột và nhện, vì họ không thể làm gì khác để cưỡng lại điều đó. Gã đứng tựa vào khung cửa, và nghĩ xem có cách nào thoát khỏi đây êm nhẹm; nhưng tình huống có vẻ như vô vọng, vì muốn thoát ra ngoài kiểu gì gã cũng phải đi qua bếp, gã cảm thấy mình đã quá già để trèo ra qua cửa sổ, mà làm như thế, thì thể nào vợ Kráner hay vợ Halics cũng biết, vì lúc nào lũ ấy chẳng để mắt xem bên ngoài có chuyện gì. Hơn nữa, chiếc gậy của gã, nếu Schmidt nhận ra, sẽ bán đứng gã ngay, rằng gã đang ẩn nấp đâu đó trong nhà này, và có thể vì thế mà gã không được hưởng phần của gã, vì trong chuyện này lão Schmidt không đùa; gã phải phắn khỏi đây giống như gã đã lao tới đây bảy năm về trước, không lâu sau vụ quảng cáo, vào năm thứ hai của sự phát đạt, với một chiếc quần tả tơi, một chiếc áo bạc phếch, không xu dính túi và đói khát. Vợ Schmidt chạy ra hành lang, còn gã thì áp tai lên cửa. “Không kêu ca phàn nàn gì hết, mèo con của anh! – Gã nghe thấy giọng khàn rè của Schmidt. – Cô hãy làm như tôi nói, rõ chưa?” Futaki thấy người nóng ran. “Số tiền của ta.” Gã cảm thấy mình bị sa bẫy. Nhưng không còn thời gian để đắn đo, vì vậy gã quyết định sẽ trèo qua cửa sổ, vì “lúc này phải làm ngay một việc gì đó”. Đúng lúc định xoay chốt cửa sổ, gã nghe thấy bước chân Schmidt đi ngoài hành lang. “Lão sẽ đi đái!” Gã nhón chân quay lại gần cánh cửa, nín thở nghe ngóng. Và khi nghe cánh cửa mở ra sân sau đóng lại phía sau lưng Schmidt, gã thận trọng lẩn vào bếp, nhìn vợ Schmidt đang căng thẳng khua chân múa tay, gã vội len lén tới cửa ra vào, nhanh chóng bước ra ngoài, và khi đã biết chắc ông bạn đã vào nhà, quay lại gõ cửa thật mạnh, làm như gã vừa mới tới nhà. “Không có ai ở nhà à? Ông bạn Schmidt ơi!” – gã kêu lên, giọng vui vẻ, rồi không để người kia còn thời gian lẩn trốn, gã lập tức đẩy cửa bước vào, và khi Schmidt định quay ra khỏi bếp để chuồn ra cửa sau, thì gã đã chặn ngang đường. “Hơ, hơ! – gã bắt đầu, giọng hả hê. – Đi đâu mà vội thế ông bạn?” Schmidt tắc nghẹn trong cổ, không thốt nổi một lời. “Thôi được, để tôi nói cho mà biết. Tôi sẽ giúp, ông bạn, tôi sẽ giúp ông nhớ ra, đừng sợ! – Gã tiếp tục với vẻ mặt hầm hầm. – Ông định chuồn với số tiền chứ gì? Đúng không? Tôi đã đoán đúng phải không? – Rồi, sau khi thấy Schmidt vẫn đứng im, mắt hấp háy, gã lắc đầu. – Hừ, ông bạn. Tôi không nghĩ ông lại làm thế.” Họ quay lại bếp, và ngồi đối diện với nhau qua chiếc bàn. Vợ Schmidt loay hoay xếp dọn tủ bếp, vẻ căng thẳng. “Hãy nghe tôi đây, ông bạn… Schmidt lúng túng bắt đầu. – Tôi sẽ giải thích ngay…” Futaki phẩy tay ra hiệu. “Tôi hiểu, không cần giải thích. Ông nói đi, Kráner cũng có trong vụ này chứ?” Schmidt miễn cưỡng gật đầu. “Mỗi người một nửa.” “Mẹ cha các người, các người định qua mặt tôi à?” – Futaki giận dữ. Gã cúi đầu suy nghĩ. “Thế bây giờ, sẽ thế nào?” – sau đó gã hỏi. “Bây giờ sẽ thế nào đây?” – gã hỏi. Schmidt tức tối dang hai tay. “Thế nào à, ông cũng có trong vụ này, ông bạn.” “Ý ông là sao?” – Futaki hỏi, trong khi gã tính đếm thứ gì đó. “Chúng mình chia ba, – Schmidt miễn cưỡng đáp. – Có điều ông phải kín mồm kín miệng.” “Điều đó ông khỏi lo.” Vợ Schmidt thở dài bên cạnh tủ bếp. “Các ông mất trí rồi à. Các ông nghĩ có thể thoát vụ này sao?” Làm như không nghe thấy, Schmidt nhìn thẳng vào mắt Futaki. “Này, ông không thể nói là chúng ta chưa nói rõ với nhau. Nhưng tôi muốn nói với ông điều này, ông bạn. Ông đừng có phản tôi!” “Chúng ta đã thỏa thuận, đúng không?” “Dĩ nhiên, trong chuyện này một phút tranh cãi cũng không, – Schmidt tiếp tục, giọng đổi sang van nài. – Tôi chỉ xin ông cho tôi vay phần của ông một thời gian ngắn! Chỉ một năm thôi! Cho tới khi chúng tôi định cư xong tại một nơi nào đó…” Futaki điên tiết. “Thế tôi còn phải liếm những thứ gì của ông nữa?!” Schmidt nghiêng mình về phía trước, tay nắm cạnh bàn. “Tôi đã không xin vay ông, nếu như bữa trước ông không bảo ông sẽ không đi khỏi đây đến bất cứ đâu. Ông dùng tất cả để làm gì? Chỉ một năm thôi… một năm!… Chúng tôi buộc phải đi, ông hiểu cho, nhất thiết chúng tôi phải đi. Với hai chục ngàn giẻ rách này chúng tôi chẳng làm được gì, đến mua một miếng đất hoang cũng không thể. Ít nhất hãy cho tôi mượn một chục ngàn hả?” “Tôi không quan tâm, – Futaki đáp vẻ bực bõ. – Mặc xác ông. Tôi cũng không muốn chết giẫm ở cái xó này!” Schmidt giận dữ lắc đầu, lão gần như sắp khóc vì uất ức, rồi lão lại tiếp tục, kiên nhẫn và mỗi lúc một bất lực hơn, lão chống khuỷu tay lên bàn, sau mỗi cử chỉ của lão chiếc bàn lại rung lên, như thể nó cũng đứng về phía lão để cuối cùng “thế nào gã chẳng mủi lòng”, đoái thương đến ông bạn đang nài nỉ, và suýt nữa thì Futaki đã xiêu lòng, khi mắt gã chợt nhìn thấy hàng triệu hạt bụi nhảy nhót trong những tia nắng mỏng manh lọt vào phòng, và mùi bếp lâu ngày đập vào mũi gã. Bỗng nhiên gã cảm thấy đầu lưỡi có vị chua chua, và gã nghĩ cái chết đang tới. Từ khi người ta giải thể cái trang trại này, từ khi dân làng vội vã, tan tác rời khỏi đây cũng nhanh như khi họ đến, và gã – cùng vài gia đình nữa, với ông bác sĩ và ông đốc học, những người cũng chẳng có nơi nào để đến như gã – ở lại đây, ngày nào gã cũng chú ý tới vị của thức ăn, trước nhất cái chết sẽ lẫn vào bát xúp, vào thịt, vào các bức tường; gã ngậm thức ăn trong miệng khá lâu trước khi nuốt, gã chậm rãi nhâm nhi rượu vang (chẳng mấy khi có) hoặc nước, và đôi khi gã có khao khát không thể cưỡng lại nổi là bẻ một miếng vữa trát tường có mùi diêm tiêu trong phòng để máy bơm, nơi gã ở, để nếm thử, để nhận ra sự cảnh báo trong cái hỗn loạn quấy nhiễu trật tự của các thứ hương vị, vì gã tin rằng, cái chết chỉ là một dạng cảnh tỉnh, chứ không phải là kết cục gây hoài nghi. “Tôi không xin ông, – Schmidt tiếp tục, vẻ mệt mỏi. – Tôi vay. Ông hiểu chứ, ông bạn? Tôi vay. Một năm nữa tôi sẽ trả ông tới đồng xu cuối cùng.” Cả hai ngồi ủ rũ bên bàn, đôi mắt Schmidt cháy bỏng vì mệt mỏi, Futaki trầm ngâm nhìn những đường nét bí ẩn của các viên gạch lát nền, để vợ chồng lão kia đừng thấy gã sợ, dù thế nào thì gã cũng không thể giải thích cho họ hiểu vì sao. “Ông hãy nói cho tôi nghe, đã bao nhiêu lần tôi phải ra Szikes một mình, trong cái nóng khủng khiếp đến nỗi con người ta không dám cả thở, vì sợ ruột gan sẽ bốc hỏa từ bên trong?! Ai đã đi lấy gỗ? Ai đã làm khu nhốt súc vật? Tôi cũng đã khổ sở đúng như ông, hay như Kráner, hay Halics! Thế mà bây giờ ông bảo ông vay, ông bạn. Rồi đến bao giờ tôi nhìn thấy mặt ông, hả?” “Nghĩa là ông không tin tôi?” – Schmidt hỏi vẻ tự ái. “Không, tôi không tin! – Futaki nói toạc ra. – Ông và Kráner đã bàn nhau, định chuồn trước khi trời sáng, và sau tất cả những chuyện đó tôi phải tin ông? Ông tưởng tôi là người thế nào? Ngu à?” Họ ngồi im. Người đàn bà lách cách với đám nồi niêu trước cái tủ bếp, Schmidt thất vọng, còn gã thì tay run run cuốn thuốc lá, gã đứng dậy rời khỏi bàn, tập tễnh lại gần cửa sổ, tay trái đặt lên đầu gậy, gã nhìn làn mưa lướt từng đợt trên các mái nhà, cây cối nghiêng ngả trong gió, các cành trơ trụi vẽ thành những đường cong đe dọa trong khoảng không; gã nghĩ đến những gốc cây, đến bùn lầy nuôi sống cây cối nay đã thành khu đất này, và gã nghĩ tới sự tĩnh lặng, sự bão hòa không âm thanh mà gã vẫn thường sợ. “Này, ông nói xem… – gã ngập ngừng cất tiếng. Các người đã quay lại đây để làm gì, nếu một lần…” “Để làm gì, để làm gì!” Schmidt lẩm bẩm. “Bởi vì ở đó, trên đường về nhà, chúng tôi mới nhớ ra. Và khi tỉnh ngộ, thì chúng tôi đã đứng trước khu trại này rồi… Hơn nữa, còn mụ vợ… Chẳng lẽ bỏ mụ lại đây hay sao?…” Futaki gật gật đầu. “Thế Kráner thì sao? – gã hỏi. Các người đã thống nhất với nhau thế nào?” “Vợ chồng hắn cũng nằm khan ở nhà thôi. Họ muốn đi về phía Bắc, mụ vợ Kráner nghe ai đó nói có một khu trại gỗ đổ nát, hay cái gì đó. Sau khi trời tối chúng tôi sẽ gặp nhau ở chỗ rẽ, chúng tôi thỏa thuận thế lúc chia tay.” Futaki thở phào. “Ngày còn dài. Còn những người khác, còn Halics, còn ông đốc học thì sao?…” Schmidt ngao ngán vân vê ngón tay. “Làm sao tôi biết được? Theo tôi, Halics sẽ ngủ suốt ngày, hôm qua ở chỗ nhà Horgos có đám cỗ to. Còn lão đốc học thì mặc xác lão! Nếu có chuyện chẳng lành với lão, tôi sẽ cho lão xuống rãnh với con mẹ ngu đần của lão, cứ yên tâm, ông bạn ạ.” Họ quyết định sẽ chờ đến đêm ở đây, trong nhà bếp. Futaki kéo ghế lại bên cửa sổ, để có thể nhìn thấy các nhà đối diện, Schmidt bị cơn ngủ quật ngã, lão gục xuống bàn ngáy khò khò, người đàn bà lôi từ sau tủ bếp ra một cái thùng quân dụng có nẹp sắt, phủi sạch bụi, lau chùi cả bên trong rồi lặng lẽ sắp đồ vào. “Mưa.” – Futaki nói. “Tôi cũng nghe thấy tiếng mưa.” – Người đàn bà đáp lại. Ánh mặt trời lấp lánh vừa xuyên qua những đám mây chồng lấp lên nhau đang trôi về hướng Đông; một thứ ánh sáng gần như lúc hoàng hôn trùm phủ lên căn bếp, không thể biết chắc những vệt nhấp nhoáng trên tường chỉ là những cái bóng hay là những dấu vết mang điềm xấu của sự thất vọng ẩn náu sau những ý nghĩ và hy vọng của họ. “Buổi trưa tôi sẽ ra đi, – Futaki vừa nói vừa nhìn làn mưa. – Ở đó dù sao mùa đông cũng ngắn hơn. Tôi sẽ thuê một khu trại, ở gần một đô thị sầm uất nào đó, và suốt ngày ngâm chân trong một chậu nước nóng…” Mưa chảy rí rách từng giọt xuống dọc theo hai bên cửa sổ, bên trong, từ khe hở bên trên rộng bằng ngón tay tới chỗ tiếp xúc của thanh góc với khung cửa, nước đã từ từ lấp đầy các vết nứt nhỏ nhất đang tìm đường chảy xuống cạnh thanh góc, tại đây lại tách thành giọt rơi vào lòng Futaki; trong khi không hề nhận thấy những giọt nước nhỏ xuống, vì từ nơi gã phiêu lưu tới khó mà trở về thực tại, gã cứ lẳng lặng tè ra quần. “Hoặc tôi sẽ xin làm người gác đêm trong một nhà máy socola… hay làm người gác cổng cho một cư xá nữ… Và tôi thử quên đi tất cả, tối tối chỉ một chậu nước nóng, và không làm gì hết, chỉ nhìn xem cuộc đời khốn nạn này trôi đi…” Mưa cho tới lúc đó vẫn rơi nhẹ nhàng, lúc này bắt đầu như trút nước, như thể nước vỡ đê muốn nhấn chìm cả mặt đất đang ngoi ngóp, cắt thành những rãnh nhỏ ngoằn ngoèo chảy về phía những chỗ thấp hơn, và dù không nhìn được qua cửa kính, gã vẫn không quay đi, gã nhìn cái khung cửa sổ tróc lở, những chỗ thạch cao bị bong ra, và bỗng nhiên sau tấm kính xuất hiện một hình lờ mờ, dần dần hiện lên một khuôn mặt người, nhưng gã không biết ngay đó là mặt ai, cho tới khi hiện rõ một đôi mắt hốt hoảng; khi đó thì gã đã nhận ra “diện mạo nhàu nhĩ của chính gã”, gã nhận ra, kinh ngạc và đau đớn, vì cảm thấy: rồi thời gian sẽ rửa đi các đường nét trên mặt gã, như nó đang chảy nhòe ra trên tấm kính; một sự khốn khó cùng cực, xa lạ phản chiếu qua hình ảnh, khi nó lại gần phía gã, những lớp xếp chồng lên nhau của sự hổ thẹn, kiêu hãnh và sợ hãi. Bất chợt gã lại cảm thấy vị chua chua lúc nãy trên đầu lưỡi, gã nhớ tới tiếng chuông lúc rạng sáng, chiếc cốc, cái giường, lùm cây keo, nền gạch bếp lạnh lẽo, và gã cay đắng bĩu môi. “Một chậu nước nóng!… Đồ quỷ… ngày nào ta chẳng ngâm chân…” Có tiếng khóc tức nghẹn đập vào tai gã. “Cô làm sao thế hả?” Nhưng vợ Schmidt không trả lời. Ả ngượng ngập quay đi, vai rung lên từng nhịp. “Cô có nghe thấy không? Cô làm sao thế?” Người đàn bà nhìn gã, nhưng sau đó, như người không còn thấy trò chuyện có ý nghĩa gì nữa, ả ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh chiếc tủ bếp, và xỉ mũi. “Sao cô lại im lặng? – Futaki hỏi. Có chuyện gì mới được chứ?” “Chúng ta còn đi đâu được nữa! – cuối cùng vợ Schmidt thốt lên ngao ngán. – Ngay trong thành phố đầu tiên một cảnh sát sẽ tóm được chúng ta! Anh không hiểu ư? Ngay cả đến tên chúng ta họ cũng chẳng thèm hỏi!” “Cô huyên thuyên cái gì đấy? – Futaki bực tức. Túi cô đầy tiền, mà cô lại…” “Tôi cũng nói về chính điều đó đấy! – người đàn bà cắt ngang. – Về tiền! Ít nhất thì anh hãy có trí khôn! Ra đi… với cái thùng khốn nạn này… như một lũ ăn mày!” Futaki cáu thực sự. “Thôi, đủ rồi. Cô đừng dính vào vụ này. Chẳng liên quan gì đến cô cả. Hãy im lặng, đó là việc của cô.” Vợ Schmidt đứng bật dậy. “Cái gì? Việc của tôi là gì?” “Tôi có nói gì đâu. – Futaki khẽ nói. Và cô bé cái mồm thôi, lão ấy dậy bây giờ.” Thời gian chậm chạp trôi, may mắn cho họ là chiếc đồng hồ báo thức đã hỏng từ lâu, không có tiếng tích tắc nhắc nhở họ, nhưng người đàn bà vẫn nhìn những chiếc kim bất động, trong khi dùng chiếc thìa gỗ đảo món ớt nấu sôi lục bục, rồi cả ba mệt mỏi ngồi xuống bên những đĩa bốc hơi, hai người đàn ông, mặc dù vợ Schmidt giục mãi (“Các anh còn đợi gì? Muốn ăn ban đêm, trong bùn lầy ướt át hay sao?”) cũng không động đến thức ăn. Họ không bật điện, dù trong khi chờ đợi khổ sở, các đồ vật nhòe đi trước mắt họ, đống nồi niêu cạnh cửa ra vào sống dậy, các thánh trên tường trở nên sinh động, thỉnh thoảng cứ như trên giường có ai đó đang nằm, và để giải thoát khỏi các ảo ảnh, lúc lúc họ lại nhìn nhau, nhưng trên khuôn mặt cả ba đều tỏa ra sự bất lực; và mặc dù họ biết rằng không thể lên đường trước khi màn đêm buông xuống (vì họ biết chắc rằng vợ Halics hay ông đốc học thế nào cũng ngồi sau cửa sổ nhìn con đường đất dẫn về phía Szikes, với nỗi lo lắng mỗi lúc càng tăng, vì Schmidt và Kráner đã chậm gần nửa ngày), lúc thì Schmidt, lúc thì người đàn bà đi lại, như muốn bất chấp mọi sự thận trọng, để khởi hành lúc hoàng hôn.

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3