Thời gian đọc: 23 phút

Người Mỹ có một câu chuyện cười kể về một anh chàng nói với mẹ mình đang học để thành Doctor (vừa có nghĩa Tiến sĩ, vừa nghĩa Bác sĩ trong tiếng Việt) về Triết học. Người mẹ trả lời: “Tốt lắm, nhưng Triết học là bệnh gì thế”?

Trong đời sống, thật sự có những Tiến sĩ Triết học suy ngẫm và khảo cứu về bệnh tật, cũng như có những không gian, thời điểm và khung ý thức ở đó Triết học được xem như một thứ bệnh, và các dạng triết lý như triệu chứng. Vế thứ nhất rất dễ thấy: ngày nay nhiều đại học và thiết chế điều hành xã hội ở phương Tây (như viện tư vấn) tuyển dụng dạng triết gia có lãnh vực chuyên môn được gọi là đạo lý sinh học (bioethics) hay đạo lý y khoa (medical ethics). Công việc của họ, nói một cách lớn lao, là xây dựng ý nghĩa về hiện hữu của con người như một hiện tượng sinh học; dưới cách nhìn này, quan niệm của nhân loại về sự hiện hữu của chính mình đã được định hình, bồi đắp, và xô đẩy theo những biến dịch về mặt thân thể.

Một lằn roi sẽ lành sau vài ngày, nhưng dấu ấn của nó trên tâm hồn đứa trẻ có thể sẽ còn mãi đến chết. Cảm giác của một vết sẹo có lúc mạnh hơn cảm giác của một vết thương. Ngoài cốt lõi thể lý (physical), thân thể còn tồn tại trên các bình diện trừu tượng, biểu tượng, và diễn tiến trong không gian 4 chiều. Thân thể là trung gian giữa môi trường và ý thức, là chiếc thuyền đưa tinh thần qua các bờ bến của sự ra đời, trưởng thành, rồi đến suy đồi; mọi tác động lên thân thể đều có thể diễn giải ra thành những nhát chạm khắc hậu thiên lên khối tiểu vũ trụ (microcosm) là tổng thể hòa hợp thân-tâm của con người. Bệnh tật, thuốc thang, các biện pháp phòng ngừa, cũng như mọi thay đổi trong sinh hoạt có tác động đến thể xác, mỗi một lần xuất hiện của chúng đều là những trường hợp, cả lịch sử lẫn giả định, khi mà con người được chạm khắc như vậy.

Để thấy rõ hơn vai trò của y khoa hiện đại trong việc cải tạo con người cũ và xây dựng con người mới, chỉ cần liệt kê ra một số chức năng mang theo quyền hạn và hiệu ứng xã hội của nó (chưa từng tồn tại trong các xã hội quá khứ): phòng chống bệnh dịch, chẩn đoán và điều trị trạng thái tâm thần, phá thai, phẫu thuật chuyển giới, hỗ trợ điều tra tội phạm, xác định lai lịch di truyền, giải phẫu thẩm mỹ, an tử/trợ tử, khuyên bảo về dinh dưỡng, và, càng lúc càng quan trọng khi tiến vào tương lai loài người, là sinh sản vô tính và những tác động nâng cao tiềm năng thân thể. Những chức năng đó đẩy y khoa vào quan hệ cọ xát và thách thức đối với các truyền thống nhân văn[1], theo nghĩa là y khoa tạo ra vô số những khả năng cách mạng mà các môn nhân văn phải nhận diện và đo lường hết tính muôn mặt của chúng. (Văn học, nói riêng, cũng phải chấp nhận và chuẩn bị cho ý nghĩ rằng tới một mức độ nào đó, nó sẽ phải tự chuyển hóa khỏi truyền thống lâu đời và cả sự giả định vô hình về tồn tại của “cái sức mạnh vĩ đại và bí ẩn, vĩnh cửu và vô địch sống trong con người, cái sức mạnh đó trong những giây phút khó khăn, nguy kịch nhất bắt con người phải hướng cái mặt mạnh mẽ nhất, cao thượng nhất, công bằng nhất của mình đến với cuộc sống” [Tiếng gọi vĩnh cửu – Ivanov] để tiếp tục tồn tại và có tiếng nói).

Công việc của các triết gia sinh học là suy ngẫm về những trường hợp như trên, lật giở những gì đã xảy ra, hình dung những gì sẽ đến, với mục đích tận cùng là trả lời câu hỏi: “có thật những thay đổi ấy đáng mong muốn hay sợ hãi như người ta tưởng”. Một góc nhìn điển hình là cách nghĩ của Nietzsche; triết gia cả đời bị hành hạ vì bệnh tật, giúp chúng ta nhận ra bệnh tật, thương tích, đau khổ thân xác, v.v. như những giềng mối gắn bó cá thể vào sự sống, vào ý chí sinh tồn, bằng câu nói ngắn gọn: “những gì không giết được tôi sẽ làm tôi mạnh lên”. Ngược lại, những gì nhân tạo mang dụng ý phục vụ thân thể hoặc củng cố tinh thần lại cũng có thể là tác nhân truyền dẫn sự áp chế hoặc biến dạng. Do vậy, tìm hiểu lãnh vực này chính là tìm cách sống đúng mực, tiếp nhận thế giới chung quanh cùng sự đa dạng của nó, cũng như duy trì toàn vẹn bản ngã; những điều này làm cho triết lý về sinh học (vì lợi ích của sự phân loại) được liệt vào phạm trù đạo lý (ethics)[2].

Đấu tranh vì sự tồn tại của chúng, và cho ý tưởng về một sự liền mạch của nhân tính xuyên qua thời gian, bằng nhiều hình thức các ngành nhân văn truyền bá lập luận như sau: các kỹ thuật tác động sinh học, bao gồm y khoa, trong thời đại ngày nay đã đạt được quyền năng thay đổi con người ở mức độ triệt để chưa từng tồn tại trong lịch sử, trừ trường hợp một vài phương pháp ít nhiều mang tính huyền thoại, chẳng hạn như khí công hay thuật Tát mãn (shamanism). Trong chuỗi liên hoàn những tác động của nền văn minh lên điều kiện sống và sinh thức của con người, y học là mắt xích trực tiếp và mật thiết nhất với thể xác, vì vậy y học cần được sự hướng dẫn của lý luận nhân văn để vượt ra khỏi não trạng tác nghiệp máy móc theo đạo đức Hippocrates, hay sự say sưa với quyền năng sinh tử. Học vấn nhân văn hướng dẫn nền văn minh trên chủ đề những gì làm cho chúng ta là con người – những gì vốn có, cần duy trì hoặc hồi phục, những gì thuộc về trật tự bên cạnh những gì thuộc về viễn ảnh, và những điều chúng ta mơ đạt đến. Xã hội cần nhận ra rằng y học phải dung nạp triết học và văn chương vào từng khoảnh khắc của nó để có thể vượt lên cao hơn khỏi là một đối ảnh trong gương của nghề đồ tể.

Đấy là một lập luận có thể chấp nhận theo giai đoạn và tới một số mức độ; tuy nhiên, để cho công bằng, truyền thống nhân văn phải chấp nhận bị chất vấn từ mọi phía về bản chất và giới hạn xã hội của nó. Cùng một lúc khi tư duy nhân văn trừu tượng của triết lý, và những đồng minh của nó như nghệ thuật, văn chương, huyền thoại, v.v. muốn điều hợp phạm trù sinh lý, thì tư duy khoa học, và những phó sản như chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa tự nhiên, cộng đồng, v.v. ngược lại lại cố biến mình thành thẩm quyền tài phán cao nhất cho nhân văn. Nền tảng của lý luận, đối với phương pháp này, là sự phân loại: giữa cao và thấp, giữa trong và ngoài, đa số và thiểu số, quy luật hay ngoại lệ, giữa những gì được chấp nhận và những gì cần loại bỏ. Tổ hợp cấu trúc tư duy gồm chủ nghĩa cộng đồng – thực tiễn – khoa học hòa lẫn vào nhau (gọi chung là tư duy trật tự hóa, hay tư duy kỷ luật) được xây dựng trên sự trực quan, hạn chế tưởng tượng: khi nó nói đến ý nghĩ, đó là ý nghĩ có thể chuyển sang thành hành động, và thường đã được chuyển rồi – ý nghĩ với nó chính là hành động vô hình. Anh Nguyễn Văn A có toàn quyền tưởng tượng mình là Napoleon trong riêng tư thầm kín, nhưng khi anh ta không chịu xưng tên thật, không nhìn nhận vợ con, không chịu cởi bỏ binh phục Napoleon để đi làm, v.v. tức là buông xuôi theo tác động của ý nghĩ mà làm rối loạn trật tự cộng đồng, thì đó là lúc ý nghĩ thầm kín của anh ta trở thành đối tượng cho các đề án nghiên cứu và chữa trị đầy thiện tâm.

Tư duy trật tự hóa kiến tạo ra hai phương pháp chính để chế tài: phương pháp tội phạm hóa và bệnh lý hóa những gì nghiêng về hướng phản đề (antithesis) với nó. Raskolnikov, con người ôm ấp chủ nghĩa cá nhân siêu việt, bị phản ứng bài xích từ ý thức xã hội của chính mình về “tội ác và trừng phạt” dồn nén đến chỗ phát cuồng, chỉ có thể bình an sau nghi thức quỳ hôn đất mà thú tội. Hai phương pháp này vốn không nhất thiết có lằn ranh rõ nét, và cùng với sự phát triển của khoa học, vùng trùng hợp của chúng ngày càng lan rộng ra. Khi Trần Độc Tú, nhà Marxist đầu tiên của Trung Quốc, gọi nhà tù và phòng thí nghiệm là nguồn cội của nền văn minh, ông có lẽ hình dung chúng như hai chức năng cá biệt, thay vì là một cặp hiện tượng tương tác và tương phỏng. Bắt đầu từ thời Khai sáng, nhà tù dần kèm thêm chức năng một loại phòng thí nghiệm không ngừng thao tác trên từng mẫu vật mới và với những phương pháp thường xuyên cải tiến, còn phòng thí nghiệm mặc nhiên cũng biến thành một loại nhà tù giam hãm những phóng nhiệm bay bổng thái quá của tinh thần. Ta còn nhớ, trước khi được xã hội chấp nhận, đồng tính luyến ái vừa bị liệt vào là bệnh lý, vừa bị ngăn cấm về mặt hành vi theo hình luật. Cứ cho nhân văn là mẹ của khoa học, khoa học lại là bác sĩ trị bệnh cho nó.

Cả nhà tù và phòng thí nghiệm đều là hình thái thiết chế lấy nền tảng là triết lý và cứu cánh của đám đông, của số nhiều. Nhà tù là bộ máy phân chia xã hội ra thành hai đám đông lớn nhỏ, với dụng ý tạo nên một sự đồng nhất trong cách đối xử và trong phẩm giá – tất cả hoặc là tù nhân, hoặc là người tự do; trong khi đó phòng thí nghiệm yêu cầu mỗi kết quả phải giữ được sự đồng nhất nguyên thể sau vô số lần tái thực hiện và nhân rộng (replicability). Từ những thiết chế này mọc ra hình mẫu con người số học hay thống kê, có cách hành xử và suy nghĩ đồng bộ, mỗi cá nhân có thể thay thế bằng cá nhân khác – sự tồn tại của họ giúp cho các trung khu thần kinh của một xã hội nắm rõ tình hình thị trường lao động và thương phẩm hóa (commodification). Hoạt động sản xuất, cả sản phẩm vật chất lẫn tinh thần, sẽ không còn bị hạn chế vì sự phân bố địa phương hay thiên bẩm, mà có thể bành trướng tới bất cứ nơi nào theo sự bành trướng của tư bản. Hai thiết chế này biểu tượng cho sự hạn chế của xã hội chống lại những ý hướng đề cao sự cá biệt, lập dị.

Văn minh phương Tây chứa đựng trong cốt lõi cái mà ta có thể miêu tả rút gọn là cuộc tranh đấu giữa cái nhìn người nghệ sĩ như kẻ điên với cái nhìn người điên như nghệ sĩ. Đây là cái khung mà trong đó triết học thực hiện cuộc phản tư về bản chất tự nó, cũng như bản chất chung các loại hình nhân văn. Ngoại trừ con đường trở thành triết học chính thống/triết học nhà nước, ý hướng tư biện thường bị các loại trật tự xem như một thứ quyến rũ nổi loạn và con đường dẫn tới điên rồ. Giữa buổi toàn trị của giáo quyền Trung Cổ, một nhà thần học đã đúc kết như sau (có lẽ chừa ra ngoại lệ là chư vị Tiến sĩ của Giáo hội): “Omnia infidelium opera peccata sunt, et philosophorum virtutes vitia” (tất cả tác phẩm vô đạo đều đầy sa đọa, và các đức hạnh của triết gia đều là tội lỗi).

Trong giới y khoa, Max Nordau không phải kẻ vô danh. Ông theo học về thần kinh với Charcot, một tượng đài y học Pháp, và nhân chủng học với Lombroso, người khởi xướng việc khảo sát các đặc điểm bẩm sinh tạo ra con người tội phạm – một gạch nối rõ nét giữa phòng thí nghiệm với nhà tù. Năm 1892, Nordau, với công trình nghiên cứu Suy đồi (Entartung) đưa ra những khẳng định tương tự:

Kẻ suy đồi không phải lúc nào cũng thuộc về mẫu người tội phạm, đàng điếm, vô chính phủ, hoặc điên rồ ra mặt; họ thường là tác giả và nghệ sĩ. Loại người này, tuy nhiên, bộc lộ ra tính cách tương tự về tâm thần, và thường là các đặc tính thân thể, tương tự với những kẻ tìm sự thỏa mãn các xung động kém lành mạnh của họ bằng lưỡi dao sát nhân hay trái bom phá hoại thay vì bằng bút mực.

Dù đấy là những phát biểu cá nhân, nhưng là quan điểm về tính cách công phá của sáng tạo văn học nghệ thuật (và từ đó, củng cố luôn sự khả tín trong lời hai cây bút nói trên về nỗi lo ngại của chế độ mỗi người phục vụ). Nhưng đây là một điểm đến ở tận cùng một lộ trình dài và quanh co, đầy chướng ngại hoặc ngã ba, nối kết những khoảnh khắc cá biệt và bỏ qua phần lớn lịch sử các hoạt động nhân văn ở những thời điểm mà công việc sáng tạo thật ra cũng chỉ là một hình thức sao chép.

Nếu đẩy xa hơn từ chỗ dừng của các quan niệm phổ biến, thì có thể đưa ra một sự phân biệt dễ đồng tình như sau: các loại học thuật thực tiễn, mà đỉnh cao là khoa học kỹ thuật, là con đường cho sự khám phá chứ không phải sáng tạo – như người phương Tây thường nói, không có Columbus thì châu Mỹ vẫn có ở đó. Con người khám phá phục tùng các quy luật và đạt được phần thưởng từ chúng; có thể nói, sự khám phá là nô lệ của quy luật. Trong khi đó, triết học và nghệ thuật ngưng tụ ra cái mới từ hư vô; sản phẩm của sáng tạo là thứ trước khi được trình bày chỉ tồn tại trong ý nghĩ chủ quan của tác giả, nhưng có ngay sau khi ra đời sự sinh động, ánh sáng rỡ ràng, và đường nét tinh tế ngang với những gì tồn tại từ khai thiên lập địa. Tin tưởng hơn ai hết, Sartre đã viết những dòng cảm động như sau về lựa chọn nghề cầm bút của ông:

Tôi khám phá rằng qua văn chương, Kẻ trao tặng có thể chuyển hóa thành Tặng vật, nghĩa là thành một sự vật thuần túy. Sự ngẫu nhiên cho tôi làm người, lòng độ lượng biến tôi thành sách. Tôi có thể đúc văn vẻ của mình, ý tưởng của mình thành con chữ bằng đồng, […] có thể trở thành nỗi ám ảnh cho cả nhân loại, có thể, nói tóm lại, trở thành một cái gì khác, khác với chính tôi, khác với những người còn lại, khác với mọi thứ. (Đôi lời [Les Mots] t.476) (Oeuvres de Jean-Paul Sartre, Éditions du Club de l’Honnête Homme, 1979).

Đó lại có thể chỉ là điều mà chúng ta tưởng. Những sáng tạo nhân văn thường được ban tặng cái vinh dự được tính gộp vào một nền “văn hiến”; sự tiếp thụ và dung nạp yên ả làm người ta ngờ rằng chúng vốn dĩ vẫn thuộc về nền văn hiến ấy từ đầu, và sự gây hấn với truyền thống hay lời lẽ kêu gọi biến đổi chỉ là hiệu ứng trình bày. Để trả lời Sartre, Foucault nhắc nhở rằng khi con người phát ngôn “trực tiếp và tức thời” những gì mình nghĩ, tin tưởng, hoặc hình dung, họ đang vận dụng những quy luật vô thức đã chi phối lịch sử, kinh tế, hành xử xã hội, và cả huyền thoại của dân tộc họ, mà ông gọi chung là diễn ngôn (discours). Ông đập tan ảo tưởng về sự bất tử của cá nhân người viết:

Khi phát ngôn, thay vì đuổi đi cái chết của mình, tôi thật ra đã tạo ra nó; hay nói cách khác, tôi đã lấp mất những khoảng trống nội tâm bên dưới cái ngoại diện lớn lao thản nhiên với cuộc đời tôi, và bàng quan đến nỗi không cần biết tôi sống hay chết. (t.274) (l’Archéologie du savoir, Gallimard 1969).

Thời điểm xuất hiện của người viết, theo Foucault, được quyết định từ thời gian tính của diễn ngôn; diễn ngôn là cái duy nhất người ta thật sự nhớ đến khi người ta nhớ về một tác giả:

Diễn ngôn không phải là cuộc sống; thời của nó không phải thời của anh; sống trong diễn ngôn, anh sẽ không hòa giải được với cái chết; anh có thể đè chết cả Thượng đế dưới sức nặng những điều anh nói, nhưng đừng tưởng tượng rằng, với tất cả những gì anh nói, anh sẽ làm ra một con người sống lâu được hơn ông ta. (Sđd, 275).

Với “diễn ngôn”, Foucault đã trấn an được nền “văn minh”: thật ra, nhờ quá trình văn minh hóa thành công, các thứ “nghệ thuật khai phóng” (liberal arts) cũng không mấy khi đưa được con người đi quá xa khỏi nền tảng quy ước tạo nên sự bền vững của xã hội. Tư duy khoa học và các ứng dụng như đã nêu trên cũng là một phần của diễn ngôn và góp phần quan trọng định hình ra nó; vì vậy, mâu thuẫn với tư duy nhân văn chỉ là tranh cãi giữa “anh em trong nhà”. Nhờ thái độ hoài nghi của ông, hoạt động sáng tạo đã bị tước mất đi hào quang hấp dẫn mà những người như Nordau và Sartre khoác lên cho nó, cái lãng mạn của “thời đại kẻ giết người” theo Henry Miller hay “triết lý bằng nhát rìu” kiểu Nietzsche. Triết gia và nghệ sĩ, rốt cục ra, chỉ là những kẻ đồng can dự trong một âm mưu, hay các tuyên úy cho nhà tù và phòng thí nghiệm.

Sự thuần hóa như trên xảy ra khi bản tính sáng tạo bị thuyết phục để tự đồng hóa mình vào với những định chế “văn minh”, “văn hiến”. Đây là một thứ cây gậy và củ cà rốt tao nhã nhưng có sức ràng buộc rất mạnh; Alfred Nobel, con người nổi tiếng nhờ phát minh ra thuốc nổ và để lại gia tài để mua chuộc hòa bình, đồng thời cũng thiết lập ra vinh dự lớn lao nhất trong giới văn học là giải thưởng mang tên ông trao cho những tác giả “có ý hướng chủ nghĩa lý tưởng”. Cạnh đó là những danh dự khác có thể còn mang tầm vóc to tát hơn, như các danh mục “Tác phẩm vĩ đại”, “Trí thức nhiều ảnh hưởng”, hay chức danh “Nhà thơ quốc gia”, “Viện sĩ Viện Hàn lâm” v.v. Những thứ này không dành cho người coi ngòi bút là vũ khí và không có đồng minh quyền lực. Trong hậu trường văn học, Milan Kundera bị cho là đã mất cơ hội tranh giải Nobel vì bị tố giác (mà không có bằng chứng thuyết phục) là đã làm chỉ điểm cho công an Tiệp Khắc – một việc không hề ảnh hưởng gì lên văn chương của ông[3]. Nếu đó là sự thật, thì có thể hiểu bằng việc trừng phạt Kundera, các nhà chấm giải, thừa hành diễn ngôn xã hội họ, đã gửi ra một thông điệp nghiêm nghị cảnh tỉnh các cây bút phải chú trọng lý lịch và tránh sa vào “tư tưởng không hợp thời”.

Ảnh hưởng triết lý phương Đông ưa sự hòa hợp, chúng ta hẳn sẽ không kìm được câu hỏi: có gì là không đúng khi tư tưởng cá nhân nằm vừa vặn trong cái khung quan niệm tập thể? Quay lại cụ thể với hai đối tượng của chúng ta, văn học được lợi gì nếu nó bước ra khỏi luật chơi của diễn ngôn và trở thành một đối trọng với y khoa trong một cuộc chiến diễn giải và phê phán?

Câu trả lời khởi đầu từ chỗ là bộ môn phục vụ con người, y khoa cần cố gắng hiểu rõ đối tượng của mình trong sự hoàn chỉnh và đa chiều. (Mặc dù đấy là mục tiêu vẫn nằm ngoài tầm tay loài người sau hàng ngàn năm và vô số nền văn minh tìm kiếm, nhưng không có nghĩa chúng ta có quyền dừng sự cố gắng). Điều này đặc biệt cần thiết trong thời đại ngày nay, khi y khoa có được ảnh hưởng xã hội rất lớn và đôi khi quyền hạn tuyệt đối trong phạm vi tác nghiệp của nó, chẳng hạn như giữa mùa dịch hoặc trong bệnh viện tâm thần. Nhưng quan trọng hơn cả, đằng sau sự kiến tạo y khoa hiện đại – phương pháp giáo dục, hệ thống quản lý, các nguyên tắc luật lệ ràng buộc, kể cả hình thức lợi ích kinh tế[4] – vì những động cơ khác biệt, cùng thúc đẩy tham vọng muốn giải quyết tức thời những vấn đề của con người, và từ đó bước sang tham vọng muốn mạnh tay chỉnh sửa sự “bất toàn” cho họ (điểm này đối xứng với sự nôn nóng của số đông ngành nhân văn liên tục cố gắng giải thích và khám phá ý nghĩa cho tổng thể những sự “bất toàn” trong một số lượng câu chữ mỗi lần).

Câu trả lời của văn học đối với y khoa đã được Người Hoang dã nói lên trong Thế giới mới tươi đẹp của Huxley: khi được giải thích tất cả những sự sắp đặt chặt chẽ cuộc sống con người là cần thiết để bảo vệ họ không bị “già đi, xấu đi, yếu đi; mắc bệnh giang mai và ung thư, có quá ít đồ ăn, có chấy rận, thường xuyên sợ hãi điều gì xảy ra ngày mai; mắc bệnh thương hàn, bị hành hạ bởi những nỗi đau không thể nói nên lời đủ mọi kiểu”, Người Hoang dã đã giản dị trả lời: “Tôi đòi tất cả những quyền đó”. Đây dĩ nhiên không phải là thái độ thiếu công bằng không chịu nhìn nhận những đóng góp của y khoa cho nhân loại, lại càng không phải sự bài xích mù quáng. Là một bộ môn lưu truyền đời này sang đời khác niềm tin về phương pháp hồi xuân thân thể bằng cách dùng những bộ phận thân thể mới, trẻ trung thay thế cho những gì thuộc về thân thể cũ, y khoa tự nó cũng có thể lợi ích từ những sự “thay máu” trên chính ý nghĩ của mình.

Y khoa đặt cho mình đối tượng phục vụ là Con Người Trung Bình, Con Người Kiểu Mẫu, một mẫu vật đại diện hoàn hảo cho đám đông không có gương mặt, không có tính cách bao phủ thế giới. Nó nỗ lực vì sự hiện diện và cải thiện của mẫu Con Người này; phép thử của thành công là khi xếp cạnh nhau thành một khối, những Con Người này sẽ tạo ra một mặt phẳng đều đặn, trơn tru, giúp cho sự vận hành của các cơ chế được dễ dàng không trở ngại. Đẩy lý luận y khoa đi đến cùng thì không có sự khác biệt cá thể nào là tích cực; những mẫu vật không hoàn toàn trùng khớp với khuôn mẫu sẽ được coi là “bệnh nhân”. Hai chức năng, hoặc chí hướng, duy trì và chuyển hóa hiện trạng (cả hai khởi đầu từ điểm con người như một động vật sinh lý bầy đàn) được đưa vào văn học bằng những hình tượng như bác sĩ Jekyll hoặc bá tước Hauberk (Vị bá tước thứ năm của dòng họ Hauberk – Aldous Huxley), và y tá Ratched trong Chuyến bay qua tổ chim cúc cu, cứng nhắc trong định kiến và thù nghịch với cá tính.

Một trong những ví dụ về tổn thất mà thái độ này có thể tạo ra cho cuộc sống là viễn ảnh sự áp chế với mọi biểu hiện thiên tài. Đối với một bộ môn có tham vọng tuyển mộ được những ứng viên thuộc giai tầng khả năng trí tuệ cao nhất trong cộng đồng, y khoa lại duy trì một quan niệm hoài nghi đối với thiên tài, coi thiên tài về tổng quát như một hệ quả của sự điên rồ. Phong cách lâm sàng lạnh lẽo của phép chuẩn đoán này thể hiện qua cách họ dung túng những cảm tính ngưỡng mộ nông nổi của người phàm chúng ta; thay vì phải đặt ra một thuật ngữ khác để tránh cách gọi thông thường vốn đầy ý nghĩa cao quý, một cách tái định nghĩa vấn đề và ngụ ý hạn chế đề tài vào những mặt trái có thể đi kèm với điều tốt đẹp, các lý luận y khoa thường dùng thẳng hai chữ “thiên tài” như chúng ta và đặt nó bên cạnh “sự điên rồ” như một cặp hiện tượng song hành. Cách gọi này như muốn nói: đúng, chúng tôi hiểu sự ngưỡng mộ của các người đối với thiên tài, và đúng, chúng tôi muốn nói về chính cái mà các người đang ngưỡng mộ, không thêm không bớt, không ngoại lệ.

Những nghiên cứu về “thiên tài và sự điên rồ” đầy rẫy trong văn bản, trước tác y khoa; tuy không phải tất cả tác giả coi sự điên rồ gắn kết với thiên tài như cái gì đáng lo ngại, ai cũng liên hệ nó với những bệnh lý vốn vẫn là đối tượng cho nỗ lực điều trị hay cải tạo của tập hợp nhà tù – phòng thí nghiệm. Người tiên phong cho ý hướng này là Lombroso (người mà Nordau thú nhận đã truyền cảm hứng cho ông). Trong tác phẩm Con người thiên tài (L’uomo di genio), Lombroso khẳng định, dựa trên cách tổng hợp những công trình y học đương thời của ông, rằng “thiên tài, cái năng lực của con người mà chúng ta quỳ gối tôn kính không hổ thẹn, đã được không ít chuyên gia tâm thần chỉ ra là có chung những khuôn khổ với bản tính tội phạm, là một trong những dạng biến thái của tinh thần, và một biến thể của bệnh tâm trí”.

Từ những nghiên cứu như trên, các thiết chế xã hội đều không tránh khỏi đi đến quan điểm là ít nhiều gì chúng đều có trách nhiệm ngăn cản những biểu hiện của sự khác biệt vượt ra khỏi lằn mức an toàn. Đây là một lý tưởng thể hiện rõ nét qua nhiều cốt truyện trinh thám – các nhân vật thám tử, những người đại diện hoặc thay thế “đáng yêu” cho bộ máy cảnh sát như Cô Maple hoặc Poirot của Agatha Christie, là những người hiện diện trên đời để nhắc nhở người ta vai trò tối thượng của các luật lệ bảo vệ an sinh cộng đồng cần phải được tuân thủ, trong tinh thần khắc khổ, thành một bản năng (Xem bài “Utopia không có thịt chó”). Bản thân có thể là thiên tài, các thám tử thường sống cuộc đời “sạch sẽ”, không bị cám dỗ từ những cảm hứng bốc đồng phi lý, và đề cao sự khám phá hơn sáng tạo. Phê phán văn học, trong nội bộ những cộng đồng liên quan, và tập trung vào ngôn ngữ, cấu tứ, thủ pháp xây dựng tác phẩm, v.v. trong nhiều trường hợp theo cách đó đã tự nó trở thành phê phán bình luận về phương pháp và ý thức y khoa/y tế, dù từ góc độ tích cực hay tiêu cực.

Điều đó nhắc nhở chúng ta: các bộ môn nhân văn có thể đều khởi đầu mỗi ý tưởng bằng một hành động khẳng định bản chất riêng tư và cá biệt của tư duy tác giả, cũng như một ý muốn sáng tạo, nhưng con người tác nghiệp nhân văn không nên chủ quan cho rằng tác phẩm tự nó luôn chuyển tải giá trị phản biện và lên tiếng giùm cho con người độc lập trước đám đông “phẳng”, đồng dạng. Lại càng không nên đồng hóa, trong tinh thần tự tôn nghề nghiệp, con người nhân văn, nghệ thuật với con người tự do, khai phóng. Carl Jung, mặc dù đầy những quan điểm thần bí và đột phá của ông về mục tiêu của Tâm lý học, lại là người nhấn mạnh sự nhất thiết phải kiềm chế con người tài năng trong mực thước tập thể (có lẽ vì còn ảnh hưởng giáo dục y khoa của ông?) Trong “Đứa trẻ thiên phú” (The Gifted child), Jung nhắc nhở “thiên tài luôn luôn nhìn một chiều và gần như luôn luôn phải trả giá bằng một sự kém trưởng thành trên các lãnh vực tinh thần khác […] Tính vững vàng lúc này đang cần thiết cho những người trẻ của chúng ta hơn bao giờ hết […] cho lợi ích của nền văn minh châu Âu, vì nó sẽ chẳng nhận được gì tốt đẹp khi những thành quả của quá khứ Thiên Chúa giáo bị xóa sạch”. (trang 145). Con người trưởng thành là con người thuộc về một nền “văn hiến”, và hành xử theo những khuôn mẫu chung của nền văn hiến ấy (mặc dù cách nói của Jung chỉ đơn giản gọi đó là biết rõ và học hỏi lịch sử).

Như đã nói ở trên, các hoạt động và sáng tạo nhân văn có thể, và thường, được đồng hóa vào một nền văn hiến, vào một dạng mẫu số chung. Điều này không có gì sai trái, và giúp ổn định xã hội, nhưng vùng vẫy bên trong khuôn mẫu không bao giờ thỏa mãn được các thôi thúc tâm lý thúc đẩy con người chấp nhận nhiều hy sinh để bước vào con đường sáng tạo (loại hy sinh như anh chàng ở trên, học ra thành “bác sĩ” Triết học thay vì bác sĩ trị bệnh). Ngay ở góc độ thưởng ngoạn cũng vậy: một nhà phê bình nghiệp dư có chút khả năng không nhìn vào một tác phẩm để nhận ra tác phẩm ấy đã tái tạo thành công những lề thói kiểu mẫu tới mức nào, mà để tìm thấy một thông điệp riêng tư giữa hai cá thể, và để tác phẩm ghép thêm một phần mới vào cuộc đời mình.

Khi tác động đó được cộng hưởng từ vô số cá nhân, tác phẩm trở thành kinh điển, khuôn mẫu, và nền văn hiến đòi hỏi cá nhân phải cảm nhận được sự cộng hưởng – hay nói đúng ra, phải nhìn nhận tầm vóc kinh điển của tác phẩm mà không nhất thiết phải qua trung gian của rung cảm riêng tư. Làm cho chúng ta cùng hòa vào sự sùng kính và vâng phục, đó là công việc của các giảng sư văn hóa.

Trong Máu me và gan ruột nơi trường trung học (Blood and Guts in High School), Kathy Acker diễn tả niềm phản kháng ngấm ngầm của con người “kém trưởng thành” theo ý Jung trước giảng sư văn hóa:

Học giả là đầu nậu cảnh sát vì anh ta chỉ định mọi đường đi mà mọi người phải theo để khỏi bị rắc rối và xã hội có thể sinh tồn. Mỗi học giả là một thầy giáo. Thầy giáo thay thế cuộc đời sáng tạo nguy hiểm với các ý tưởng chết rồi dạy mấy ý tưởng đó như là lịch sử và ý nghĩa của thế giới. Thầy giáo chỉ hành hạ học sinh. (tr.68, Blood and Guts in High School Plus Two)

Sự thiêng liêng của khuôn mẫu được bảo vệ bằng sự vận dụng – có chiến lược, có mục tiêu – tập hợp nhà tù và bệnh viện. Nếu sự phá hoại tác phẩm nghệ thuật là một vi phạm luân lý và làm thất thoát lịch sử, truyền thông phương Tây sẽ biện minh thế nào cho cách họ chào mừng việc phá hoại tượng đài Lenin ở Đông Âu hay Saddam Hussein ở Baghdad? Sự/cách trừng phạt (hay ban thưởng) kẻ phá hoại chứng tỏ chiều hướng nhìn nhận của trung tâm quyền lực về giá trị nhân văn của tác phẩm. Vì vậy, trong biến thế tư pháp dùng trừng phạt và trấn áp những phản kháng chống lại sự ấn định của xã hội về giá trị nghệ thuật, khía cạnh khẳng định diễn ngôn thường được nhấn mạnh hơn khía cạnh ổn định an ninh trật tự thông thường[5].

Năm 1891, một thanh niên sùng đạo tên Carey Washington tìm cách hủy hoại bức Mùa xuân của Bouguereau triển lãm tại Omaha, bang Nebraska. Khi ra tòa, anh ta giải thích là đã nhìn thấy những bức tranh như thế này ở nhà thổ, và không muốn mẹ hay em gái mình phải nhìn thấy chúng nơi công cộng. Washington được chẩn đoán là mất trí và tha bổng trước tòa. Tuy có thể ngoài đời thực đó là một chẩn đoán chính xác, điểm đặc sắc của câu chuyện này là tòa án đã chấp nhận lý do mất trí như một cách biện hộ, trong khi hành động của bị cáo thể hiện sự áp dụng hợp lý những nguyên tắc kiểm duyệt nghệ thuật dựa trên tập quán luân lý không lâu trước đó được cả xã hội tuân thủ, và ngay tại thời điểm vụ án vẫn còn nhận được sự đồng tình của một số đông người Mỹ. Bằng cách khoan dung với bị cáo, các thiết chế xã hội muốn dập đi cuộc tranh luận về giá trị nghệ thuật và hệ quả luân lý có thể bùng nổ quanh vụ án. Tương tự, theo Martin Warnke, các hành động phá hủy thánh tượng của những người Rửa tội lại (Anabaptist) tại Münster thời Cải cách tôn giáo được Giáo hội diễn tả như cơn bùng nổ của bệnh điên rồ để tránh không thảo luận nội dung những phản kháng thần học cụ thể đằng sau chúng.

Như vậy, y khoa là một phần của diễn ngôn muốn kiềm chế sức phá hoại của những “lạc điệu” (deviation) trong nhân văn; diễn ngôn sử dụng nó, và nó sử dụng lại diễn ngôn, tìm kiếm đồng minh trong thế giới tư duy trừu tượng/ biểu tượng, đồng hóa khả năng quy nạp về khuôn mẫu một cách thông thạo với sự trưởng thành trong cảm nhận. Vì thế, trong công cuộc tìm kiếm và khẳng định giá trị của con người, như cá thể và như thành viên cộng đồng, văn học và y khoa được đặt trong một sự tương tác biện chứng.

Ở trong cùng một diễn ngôn, văn học kết hợp với y khoa thành một tổ hợp (tạm gọi là tổ hợp diễn ngôn); những bộ khung đóng quanh tư duy làm chúng có vẻ như tương phản chỉ có vai trò thứ yếu, và có những góc độ khiến cho khung trở thành công cụ nối kết thay vì phân rẽ. Nói cách khác, thuật điều khiển (Control, thường viết hoa) đúng nguyên tắc có thể sắp đặt chúng vào những mô hình chắp ghép kết hợp; chỉ có diễn ngôn là chiếc khung thực thụ, tối hậu. Nếu cần một cách minh họa hình học, có thể hình dung chúng như “những bề mặt” của một dải Mobius; hai bộ môn nhị phân cạnh tranh nhau bằng cách chuyền tay qua lại vai trò điều phối dư luận, và thay phiên nhau đưa ra những giá trị xen kẽ mà hiệu ứng chung cục là duy trì tâm trạng ổn định không vương thắc mắc cho dân chúng. Nhưng bên trong văn học luôn có sẵn một điểm mầm mống nhỏ nhoi của hủy thể: đấy là cảm giác “ngứa ngáy” không thể xoa dịu muốn vượt ra khỏi diễn ngôn để khai phá những khía cạnh và bình diện mà diễn ngôn không hiểu, không nhìn nhận và chẳng cho nhắc tới. Mô hình tương tác này lồng trong sự tương tác lịch sử giữa cái mà Foucault gọi là các “nghệ thuật sống” (les arts de vivre) với cái mà ông gọi là các “kỹ thuật bản thể” (les techniques de soi) và “chế độ chân lý” (régimes de vérité).

 

[1] Chữ “nhân văn” ở đây mang ý nghĩa gần với cái ở phương Tây hiện nay gọi là “Giáo dục khai phóng” (Liberal Arts); “the Humanities” của phương Tây đôi khi tính chung cả các bộ môn như Lịch sử, mà người Việt quen liệt vào các môn học xã hội. Cũng có thể xem chữ này như một đồng nghĩa của cụm từ “sản xuất văn hóa”.

[2] Có những luận thuyết đạo lý theo chủ nghĩa hư vô phủ nhận tiên đề nhân loại là trung tâm của thế giới, và chất vấn tại sao phải ưu tiên hướng mọi hoạt động về phục vụ con người thay vì phục vụ quần thể sinh vật (như suy nghĩ nhóm khủng bố trong Mùi Adam của Jean-Christophe Rufin). Để thu hẹp đề tài trong phạm vi nhân văn (theo nghĩa sát nhất là bàn về con người), thích hợp nhất là ở đây người viết sẽ không bàn tới họ.

[3] Tham khảo, chẳng hạn, ở đây: “A Strange Equality in His Grandiosity: On Craft and Milan Kundera” https://lareviewofbooks.org/article/a-strange-equality-in-his-grandiosity-on-craft-and-milan-kundera/

[4] Giới y khoa thường bị cáo buộc là “nuôi bệnh”, nhưng trong tình trạng quá tải y tế ngày nay ở phương Tây, lợi ích kinh tế mong muốn bệnh nhân phải được xuất viện sớm, vì lý do khỏi bệnh hoặc chết.

[5] Phá hoại một nghệ phẩm có thể là một phát ngôn phản kháng rất hiệu quả, và lôi kéo được sự chú ý phê phán của dư luận. Năm 1986, van Bladeren, một họa sĩ trẻ, dùng dao rạch rách bức tranh Đỏ, vàng, xanh III của Newman trưng bày tại bảo tàng Stedelijk, Amsterdam. Một số người lên tiếng ủng hộ việc này, trong đó một người đã viết thư cho viện bảo tàng, đề nghị “kẻ bị cho là phá hoại này nên được phong làm giám đốc các bảo tàng hiện đại”.

Chấm sao chút:

Đã có 5 người chấm, trung bình 4.4 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Trần Thiện Huy
Các bài viết khác

Một người hay nói về sách, dù đọc rất ít