Thời gian đọc: 10 phút

Khu vườn trong tường bao

1

Cậu bé trước. Tên cậu là Yusuf, và cậu đột ngột bỏ nhà đi năm lên mười hai. Cậu nhớ rằng khi ấy là mùa hạn, ngày nào cũng như ngày nào. Những bông hoa không báo trước nở bung và tàn úa. Những loài côn trùng kỳ lạ hối hả bò ra từ dưới những cục đá và quằn quại đến chết dưới ánh nắng rát bỏng. Mặt trời khiến rặng cây phía xa run rẩy trong không khí và khiến nhà cửa rùng mình và hổn hển thở. Những đám bụi tung mù lên dưới mỗi bước chân nặng nề và cái tĩnh lặng gai người bao trùm lên bạch nhật. Trở lại trong cậu về mùa ấy là những khoảnh khắc chính xác như vậy.

Cậu nhìn thấy hai người châu Âu trên sân ga vào lúc đó, lần đầu tiên trong đời. Cậu không hoảng sợ, ban đầu thì không. Cậu đến nhà ga thường xuyên, để quan sát những đoàn tàu vào bến một cách ồn ào và thanh thoát, và rồi để đợi chúng lại kéo nhau đi, dưới sự chỉ huy của tay gác ghi cau có người Ấn với cờ hiệu và còi hiệu. Thường Yusuf chờ hàng giờ mới thấy một đoàn tàu đến. Hai người châu Âu cũng đang đứng đợi dưới một mái che bạt với hành lý và đồ đạc trông có vẻ quan trọng được xếp gọn gàng cách đó vài bộ. Người đàn ông to lớn, cao đến nỗi phải cúi đầu xuống để tránh chạm vào tấm bạt mà dưới đó anh đang tránh nắng. Người phụ nữ đứng sâu hơn vào trong bóng râm, gương mặt bóng nhẫy bị che khuất một phần bởi hai chiếc mũ. Chiếc áo diềm xếp nếp trắng của cô đóng cúc đến tận cổ và cổ tay, và chân váy dài chấm đất. Cô cũng cao và lớn, nhưng theo cách khác. Trong khi cô trông giống một cục gì đó chờ người ta nhào nặn, tựa hồ có thể biến thành một hình dạng khác, thì anh nom như được tạc ra từ một mảnh gỗ nguyên khối. Họ nhìn hai hướng khác nhau, tựa hồ không quen biết nhau. Khi quan sát, Yusuf nhìn thấy người phụ nữ cầm khăn tay lau sơ môi, thản nhiên chà đi những vảy da khô. Gương mặt người đàn ông nổi ban đỏ, và khi đôi mắt anh ta quét chầm chậm qua quang cảnh chật hẹp của nhà ga, ghi nhận những nhà kho bằng gỗ khoá trái và lá cờ vàng lớn có hình con chim đen quắc mắt, Yusuf có thể nhìn kỹ anh ta. Rồi anh ta quay lại và thấy Yusuf đang nhìn chòng chọc. Người đàn ông ban đầu liếc đi chỗ khác và rồi quay lại nhìn Yusuf một lúc lâu. Yusuf không thể ngăn mình nhìn. Đột nhiên người đàn ông bất giác nhe răng dậm dọa, cong gập ngón tay một cách không thể cắt nghĩa. Yusuf nhận ra lời cảnh cáo và tháo chạy, miệng lầm bầm những từ cậu được dạy phải nói khi cậu cần sự giúp đỡ đột ngột và không báo trước từ Chúa.

 

Cái năm cậu bỏ nhà đi cũng là năm mối mọt lúc nhúc trên cột hiên sau nhà. Bố cậu giận dữ vụt vào cột mỗi lần ông đi qua, để chúng biết rằng ông biết chúng đang bày trò gì. Đám mối mọt để lại dấu rãnh trên xà nhà trông như đất bị bới lên đánh dấu những đường hang thú dưới lòng suối khô. Cột hiên nghe vẻ mềm và rỗng mỗi khi Yusuf đập vào, và bung ra những hạt mùn mục ruỗng li ti. Khi cậu càu nhàu đòi ăn mẹ bảo cậu đi mà ăn mối.

“Con đói,” cậu rên rỉ với bà, một lời kinh cầu không được dạy cậu tụng niệm mỗi năm một cộc cằn hơn.

“Đi mà ăn mối,” mẹ cậu gợi ý, và rồi cười lớn trước vẻ mặt đớn đau kinh tởm mà cậu phô ra cường điệu. “Đi đi, ních đầy bụng bất kỳ lúc nào mày muốn. Đừng để mẹ ngăn mày.”

Cậu thở dài theo kiểu chán đời mà cậu đang thử nghiệm để cho bà thấy câu đùa của bà ngớ ngẩn ra sao. Đôi khi họ gặm chỗ xương mẹ cậu đun lên để nấu thứ canh loãng, bề mặt bóng nhẫy những màu và mỡ, và bên dưới ẩn nấp những cục tuỷ đen xốp rỗng. Tệ nhất là chỉ có đậu bắp hầm, nhưng dù có đói đến mấy Yusuf cũng không thể nuốt nổi thứ canh nhớt nhát ấy.

Chú Aziz của cậu cũng đến thăm họ vào thời điểm đó. Những cuộc ghé thăm của chú chóng vánh và thưa thớt, thường được tháp tùng bởi một đám đông du khách và phu khuân vác và nhạc công. Chú dừng chân nơi họ trên những cuộc hành trình chú đi từ biển lên núi, lên hồ và rừng, và xuyên qua đồng bằng khô hạn và đồi đá trọc nằm sâu trong nội địa. Những hành trình của chú thường kèm theo trống và trống tamburi và tù và và tù và siwa, và khi đoàn người của chú kéo vào thành phố động vật chạy loạn và sơ tán, và trẻ con trở nên mất kiểm soát. Chú Aziz toả ra một mùi hương kỳ lạ và bất thường, một tổ hợp của da sống và nước hoa, và nhựa cây và gia vị, và một mùi khác khó nhận biết hơn khiến Yusuf nghĩ đến hiểm hoạ. Trang phục chú thường mặc là một bộ kanzu mỏng, thướt tha bằng vải cotton cao cấp và một chiếc mũ đan kim móc đội cao phía sau đầu. Với phong thái tao nhã và cử chỉ lịch sự, bình thản, chú trông giống một người đang đi dạo phố buổi chiều hoặc một kẻ sùng đạo đang trên đường đến lễ cầu kinh buổi tối hơn là một thương gia đã kinh qua những bụi gai và ổ rắn phun độc. Ngay cả trong cảnh rối rít khi đoàn đến, giữa cái hỗn loạn và lộn xộn của đồ đạc rơi đổ, bao quanh bởi những người phu khuân vác mệt mỏi và ồn ào, và những con buôn cảnh giác, sẵn sàng nanh vuốt, chú Aziz vẫn giữ được vẻ bình tĩnh và thoải mái. Trong lần ghé thăm này chú tới một mình.

Yusuf luôn yêu thích những cuộc ghé thăm của chú. Bố cậu nói chúng mang lại vinh dự cho họ vì chú là một thương gia giàu có và nổi tiếng – tajiri mkubwa – nhưng đó không phải tất cả, dẫu rằng vinh dự luôn là điều đáng trọng. Chú Aziz cho cậu, không thiếu lần nào, một đồng mười anna[1] mỗi lần chú dừng chân nơi họ. Không có yêu cầu gì cho cậu ngoài việc cậu cần có mặt vào thời điểm thích hợp. Chú Aziz để ý tìm cậu, mỉm cười và cho cậu đồng xu. Yusuf có cảm giác mình cũng muốn cười mỗi lần khoảnh khắc đó tới, nhưng cậu ngăn bản thân lại vì cậu đoán rằng sẽ thật sai trái nếu cậu làm thế. Yusuf say mê làn da phát sáng và mùi hương bí ẩn của chú Aziz. Ngay cả khi chú đi rồi, mùi nước hoa của chú còn lưu lại đến mấy ngày.

Đến ngày thứ ba của cuộc ghé thăm, có thể thấy hiển nhiên là chú Aziz sắp rời đi. Có cảnh hoạt náo bất thường trong bếp, và một mùi thơm pha tạp, không lẫn vào đâu được của một bữa cỗ. Gia vị chiên thơm phức, nước dừa sôi lăn tăn, bánh bao lên men và bánh mì dẹt, bích quy đang nướng và thịt đang luộc. Yusuf chú ý không đi quá xa nhà cả ngày, phòng trường hợp mẹ cậu cần giúp chuẩn bị các món ăn hay nghe góp ý về một món trong số đó. Cậu biết bà đánh giá cao nhận xét của cậu về mảng này. Hoặc bà có thể sẽ quên không khuấy một món xốt, hoặc lỡ thời điểm dầu sôi vừa đủ già để bỏ rau vào. Tình thế có chút cắc cớ, bởi dù cậu muốn có thể để mắt đến căn bếp, cậu lại không muốn mẹ nhìn thấy mình đang chơi rong để canh chừng. Khi đó bà chắc chắn sẽ sai cậu đi làm đủ thứ việc vặt, một việc mà bản thân nó đã tệ rồi, nhưng còn có thể khiến cậu lỡ mất cơ hội tạm biệt chú Aziz. Luôn là chính thời điểm chú rời đi mà đồng mười anna được trao tay, khi chú Aziz đưa bàn tay ra để được hôn và xoa phía sau đầu Yusuf khi cậu cúi xuống. Rồi với vẻ thoải mái thành thục chú sẽ tuồn đồng xu vào tay Yusuf.

Bố cậu thường đi làm đến sát đầu giờ chiều. Yusuf đoán rằng ông sẽ đưa chú Aziz theo cùng khi ông tới, vậy nên còn khá nhiều thời gian để nướng. Công việc của bố cậu là điều hành khách sạn. Đây là nỗ lực gần nhất trong một dây những vụ làm ăn mà bố cậu đã thử để làm giàu và gây dựng danh tiếng. Khi ông có hứng ông kể họ nghe ở nhà những câu chuyện về những mánh lới khác mà ông từng nghĩ sẽ sinh lời, tả sao cho chúng nghe thật ngớ ngẩn và buồn cười. Hoặc Yusuf nghe ông than phiền rằng đời ông đã đi sai hướng, và rằng mọi thứ ông thử đều thất bại. Cái khách sạn, gồm một nhà ăn với bốn cái giường sạch trong căn phòng tầng trên, nằm trong thị trấn nhỏ Kawa, nơi họ đã sinh sống hơn bốn năm. Trước đó họ đã từng sống ở miền nam, tại một thị trấn nhỏ khác trong vùng canh tác nông nghiệp nơi bố cậu có một cửa hàng. Yusuf nhớ ngọn đồi xanh và bóng núi xa xa, và lão già ngồi trên ghế đẩu trên vỉa hè trước cửa hàng, thêu mũ bằng chỉ lụa. Họ tới Kawa vì thị trấn này phất lên khi người Đức dùng nó làm kho chứa cho đường ray họ đang xây đến cao nguyên nằm sâu trong nội địa. Nhưng cơn sốt ấy qua đi nhanh chóng, và đoàn tàu giờ đây chỉ dừng ở thị trấn này để lấy gỗ và nước. Trong chuyến đi cuối cùng của mình, chú Aziz đã bắt tàu đến Kawa trước khi đi bộ thẳng sang phía tây. Trong hành trình tiếp theo, chú nói, chú sẽ đi xa nhất có thể đến cuối đường ray trước khi chuyển hướng tây bắc hoặc đông bắc. Vẫn sẽ có mối tốt để buôn bán ở một trong hai nơi đó, chú nói. Đôi lúc Yusuf nghe bố cậu nói rằng cả thị trấn sẽ đi thẳng xuống địa ngục.

Chuyến tàu ra ven biển rời đi vào đầu giờ tối, và Yusuf tưởng rằng chú Aziz sẽ đi chuyến đó. Cậu đoán từ điều gì đó trong cử chỉ của chú rằng chú Aziz đang trên đường về nhà. Nhưng bạn không bao giờ chắc chắn được gì với người ta, và chú hoàn toàn có thể bắt chuyến tàu lên núi sẽ rời đi vào giữa giờ chiều. Yusuf đã sẵn sàng cho cả hai tình huống. Bố cậu muốn cậu xuất hiện ở khách sạn mỗi buổi chiều sau lễ cầu kinh giữa ngày của cậu – để học nghề, bố bảo cậu, và để học cách tự đứng trên đôi chân của mình, nhưng thực ra là để đỡ việc cho hai cậu trai trẻ lo giúp việc và dọn dẹp trong nhà bếp, và phục vụ đồ ăn cho khách khứa. Tên đầu bếp khách sạn uống rượu và chửi bới, và lăng mạ bất kỳ ai trong tầm mắt trừ Yusuf. Ông ta sẽ dừng lại giữa chừng một bài diễn thuyết tục tĩu với một nụ cười khi ông ta liếc thấy cậu, nhưng Yusuf vẫn kính sợ và run rẩy trước mặt ông ta. Ngày hôm ấy cậu không đến khách sạn, cũng không cầu nguyện giữa ngày, và trong cái nóng khủng khiếp vào thời điểm ấy trong ngày cậu không nghĩ rằng có ai sẽ rảnh mà săn tìm cậu. Thay vào đó cậu lẩn lút trong các góc tối và phía sau chuồng gà trong sân sau, tới khi cậu buộc phải ra khỏi đó vì mùi hôi ngạt thở bốc lên từ đám bụi đầu chiều. Cậu trốn trong xưởng gỗ tối tăm ngay cạnh nhà, một chốn có bóng râm tím thẫm và mái vòm lợp tranh, nơi cậu lắng nghe tiếng chạy gấp gáp thận trọng của thằn lằn săn mồi và gắt gao canh chừng đồng mười anna.

Cậu không thấy cái im lặng và u ám của xưởng gỗ đáng sợ, vì cậu đã quen chơi một mình. Bố cậu không thích cậu đi chơi xa nhà. “Chúng ta bị bao vây bởi tuồng man rợ,” ông nói. “Washenzi[2], những kẻ không có đức tin vào Chúa và thờ cúng vong hồn và quỷ dữ sống trong cây và đá. Chúng không mê gì hơn bắt cóc trẻ con để làm gì tùy ý chúng. Hoặc mày sẽ đi với đám khác không thiết tha gì trên đời, lũ chơi rong và con cái của lũ chơi rong, và chúng sẽ quên mày và để chó hoang ăn thịt mày. Chơi gần đây chỗ nào an toàn thôi, để ai đấy còn để mắt đến mày được.” Bố Yusuf muốn cậu chơi với đám trẻ con nhà bán tạp hoá người Ấn sống cùng khu, ngoại trừ việc bọn trẻ con người Ấn ném cát và giễu cợt cậu khi cậu cố gắng đến gần chúng. “Golo, golo[3],” chúng kêu to để giễu cậu, nhổ nước bọt về phía cậu. Đôi lúc cậu ngồi với đám con trai lớn hơn hay ườn oài dưới bóng cây hoặc dưới hiên nhà khuất gió. Cậu thích chơi với đám con trai vì chúng luôn pha trò và cười đùa. Bố mẹ chúng là vibarua[4], làm công cho người Đức trong kíp xây đường tàu, làm khoán sản phẩm ở ga đầu mối, hoặc khuân vác cho khách du lịch và con buôn. Họ mãi chỉ được trả công trên phần việc họ làm, và nhiều lúc không có việc. Yusuf đã nghe đám con trai nói rằng người Đức treo cổ người ta nếu họ không làm việc đủ chăm chỉ. Nếu họ quá trẻ để treo cổ, chúng cắt dái của họ. Người Đức không sợ gì. Chúng làm bất kỳ cái gì chúng muốn và không ai ngăn nổi chúng. Một đứa con trai nói rằng bố nó đã nhìn thấy một người Đức thò tay vào giữa ngọn lửa hừng hực mà không bị bỏng, như thể hắn ta là một bóng ma.

Các vibarua bố mẹ của chúng đến từ tứ xứ, từ cao nguyên Usambara phía bắc Kawa, từ những hồ nước tuyệt diệu phía tây cao nguyên, từ thảo nguyên bị chiến tranh tàn phá phía nam và rất nhiều người đến từ vùng ven biển. Chúng cười đùa về bố mẹ mình, giễu nhại những bài ca lao động của họ và trao đổi nhau những câu chuyện về mùi chua loét và kinh tởm họ mang về nhà. Chúng bịa ra tên quê hương của bố mẹ mình, những cái tên hài hước và khó ưa chúng dùng để chửi giễu nhau. Đôi khi chúng đánh nhau, vật lộn và đá đấm và làm nhau đau. Nếu có thể, đám con trai lớn hơn tìm việc làm đứa ở hoặc sai vặt, nhưng chủ yếu chúng chỉ nằm ườn và bới rác, chờ tới khi đủ khoẻ để làm việc của đàn ông. Yusuf ngồi với chúng khi chúng cho phép, lắng nghe cuộc chuyện trò của chúng và chạy việc vặt cho chúng.

Để giết thời gian chúng buôn chuyện hoặc chơi bài. Chính là khi ngồi với chúng Yusif lần đầu tiên nghe được rằng em bé sống trong dương vật. Khi một người đàn ông muốn có con, anh ta nhét đứa bé vào trong bụng của một người phụ nữ nơi nó có nhiều không gian hơn để lớn. Cậu không phải là người duy nhất thấy câu chuyện khó tin, và dương vật được lôi ra và đo đạc khi cuộc tranh luận gay gắt hơn. Rất nhanh chóng đám trẻ con bị lãng quên và đám dương vật trở nên thú vị theo cách riêng của chúng. Đám con trai lớn hơn tự hào phô món của mình và bắt mấy đứa nhỏ hơn phải trưng ra những abdalla[5] nhỏ bé của chúng để cười vào đó.

Đôi lúc chúng chơi kipande[6]. Yusuf quá nhỏ để có bao giờ được cơ hội đánh con, bởi tuổi tác và sức vóc quyết định thứ tự đánh con, nhưng bất cứ khi nào cậu được chơi cậu hùa vào với đám đông bắt con đang điên loạn chạy quanh khoảng sân bụi bặm đuổi theo thanh gỗ bay. Có lần bố cậu nhìn thấy cậu chạy trên phố với một đám trẻ con cuồng kích đuổi theo một thanh kipande. Ông ném cho cậu một ánh nhìn hà khắc không hài lòng và tát cậu trước khi lôi cậu về nhà.

Yusuf tự làm một thanh kipande cho riêng mình, và biến tấu trò chơi để cậu có thể chơi một mình. Cách biến tấu của cậu là giả vờ cậu cũng là tất cả những người chơi khác, với lợi thế rằng theo cách này cậu có thể đánh con bao lâu cậu muốn. Cậu đuổi tới đuổi lui trên con đường trước nhà, hét lên thích thú và cố gắng bắt thanh kipande cậu vừa đánh lên cao nhất có thể trên không trung, để cho mình thời gian chạy đến dưới nó.

Hà Trang dịch từ bản tiếng Anh Paradise, The New Press xuất bản, 1996.

 

[1] Đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, bằng 1/10 đồng rupi.

[2] Từ mang ý miệt thị mà người Swahili theo đạo Hồi dùng để gọi những người không theo đạo Hồi ở lục địa châu Phi.

[3] Trong tiếng Gujarat, nghĩa là mọi rợ.

[4] Trong tiếng Swahili nghĩa là người làm công.

[5] Trong tiếng Ả Rập có nghĩa là bầy tôi của Chúa. Ở đây ý chỉ dương vật.

[6] Ở đây hiểu như trò đánh khăng ở Việt Nam.

Chấm sao chút:

Đã có 4 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3