Thời gian đọc: 24 phút

CHƯƠNG I: TÊN CỦA “ĐÓA HỒNG” (THAY LỜI DẪN NHẬP)

 

Chính vì tôi tán láo nên tôi mới là người;

không bao giờ đạt đến được một chân lý nào

mà không phải tán láo đến mười bốn lần.

Dostoyevsky, Tội ác và Trừng phạt

Đứng bên ngoài không gian và thời gian, Llixgrijb

bắt tay vào thành tựu vĩ đại nhất của nó: một vũ

 trụ có bề ngang, dọc, cao, và thời gian – một vũ trụ

mang ảo tưởng về lịch sử Biệt thời.[1] Rồi nó quyết

định tạo ra những thực thể giả tưởng để chơi – những

thực thể giả tưởng như chính quý vị, thưa độc giả

thân kính. Nhưng Llixgrijb bỗng lo sợ. “Lỡ như các

 tạo vật khám phá ra chúng chỉ là hình bóng”- Llixgrijb

 ưu tư. “Lỡ như chúng biết chỉ có ta mới là thực”.

Coleman và Perrin, Những ghi chép về Không Từng Thấy (The Jamais Vu Papers)

Cho những người khăng khăng muốn nối kết hai cái tên, Umberto Eco đã phải bày giải mạnh mẽ rằng chữ Foucault trong tên sách của ông (Con lắc Foucault) không dính líu gì đến người bạn cũ Michel cả. Ngược lại, ngay từ đầu sách này xác định rõ rằng, qua tên sách, tất cả những gì trong đó đều liên quan đến nhà triết gia Pháp nọ và triết lý của ông ta.

Ý tưởng của Foucault rải rác suốt một sự nghiệp dài, thường xuyên thay đổi chủ đề và khám phá góc nhìn mới; ở đây, vì không có ý định tạo ra một công trình biên khảo, tôi sẽ không bám sát quá kỹ lịch sử xoay chiều của ông mà để việc đó lại cho những nhà tiểu sử quen tỉ mỉ về ngày tháng và khảo dị. Sợi chỉ Foucault không dùng tên ông để nói về một con người cụ thể, với những thăng trầm, biến đổi, và cả những khiếm khuyết, sai lầm (một người Pháp thời thập kỷ 70 mà lại đi mê sandwich với nước Coke!) mà như một sự kiện, hay một dấu mốc học thuật biệt lập. Làm như vậy chính là một cách tránh đi phương pháp tư duy của những môn đồ, luôn đặt câu hỏi: nếu còn sống thì lúc này Bậc Thầy sẽ nói gì về chuyện ấy chuyện nọ, và thay thế bằng một tuyên ngôn cửa miệng rất Pháp rằng je suis Foucault (tôi cũng là Foucault).

Trong khi gợi lên trong người đọc liên tưởng mơ hồ tới tên tuổi một bestseller có thể là cách bán sách hay ngoài ý muốn, người viết chỉ thấy ở sách mình có chăng là những tương đồng với tác phẩm đình đám khác của Umberto Eco là Tên của đóa hồng – câu chuyện về hành trình của con người xuyên qua đám rừng những dấu hiệu hỗn loạn để tìm đến sự thật (mà gần như đồng nghĩa với tìm đến cái tên của sự thật, hay xa hơn nữa là đặt tên sự thật), giữa cuộc đấu tranh náo loạn đẫm máu của cả một châu lục, một thời đại cũng để chỉ định một “chân lý” (với sự nhấn mạnh về hơn chân). Được Eco xem như một “phòng thí nghiệm” cho các dấu hiệu, cuốn tiểu thuyết là một mô hình thu nhỏ cho phép ta quan sát một hệ thống đã và vẫn đang củng cố nền tảng bá quyền trên diễn ngôn (discoursal hegemony), và với một kiến tạo thật ra không thể tồn tại ở thời Trung cổ (thư viện khổng lồ chứa gọn trong duy nhất một tầng lầu, do một thủ thư cai quản) mà gần hơn với hiện trạng của liên văn bản và số hóa, tuy Eco nhắc đến thời Trung cổ, nó có lẽ thật sự nói về kỷ nguyên hiện đại của chung chúng ta.

Theo lời ông, chủ ý của Eco muốn dùng thư viện như một ẩn dụ về thế giới rộng lớn; như vậy, có thể suy diễn tu viện và làng mạc bên ngoài chính là thế giới mộng đi sát với nó, một sự đảo nghịch cách hình dung quan hệ giữa hai không gian văn hóa và đời thường[2]. Hằng đêm, người tu sĩ học thức, cao quý chìm đắm trong lãnh vực tinh thần do thư viện triệu hoán – mà đối với họ mới là thực tại – trên thư viện trở về lại với nơi ở của mình, như bước vào cơn ác mộng trong đó mọi thù hận, dục vọng và sợ hãi được thả ra. Tu viện tối tăm và đầy hình ảnh kỳ bí đối lập với sự sáng sủa bình yên hằng ngày nơi phòng đọc sách; trong vùng ác mộng đó, con người thăng hoa, tu dưỡng của họ bị “giết đi” vì những bí mật không được thừa nhận. Tuy nhiên, căn phòng đọc sách chỉ là bề mặt của thư viện; đi sâu vào hơn – điều mà các nhân vật không được phép – ta khám phá ra những con quái vật trang trí trong tu viện là bản sao của tri thức trong sách vở, và cái ác cũng là từ văn hóa mà sinh ra. Tu viện, như lời nhân vật Aymaro, bảo vệ thư viện như một pháo đài; mộng mị, kể cả ác mộng cũng chính là lớp bảo vệ cho thế giới tỉnh thức, và cuối cùng, chính từ thế giới tỉnh thức mà sự hủy diệt toàn bộ được đem đến khi ác mộng được phép xâm nhập.

Truyện này là quyển sách nói về các quyển sách: kỹ năng trinh thám, hay định hướng, của nhân vật William xứ Baskerville, xuyên qua kiến trúc Mê cung của thư viện được giới thiệu từ mở đầu như là khả năng vận dụng hiểu biết về “cách các tu sĩ đọc Thánh kinh và suy nghĩ bằng Thánh kinh như thế nào”. Giữa một thế giới nơi đọc sách là để “nhìn thấy trí tuệ thiêng liêng ngời sáng trong những quyển sách”, điều đó có nghĩa là diễn dịch cách người ta đọc và hiểu sách. Trong lòng một thư viện khổng lồ, sách thay thế cho mọi phương tiện giao dịch, và là niềm đam mê khiến con người thấy mình còn hiện hữu; những cách đọc sách, liên hệ sách khác nhau chính là chìa khóa cho mọi suy nghĩ và hành động ở nơi này.

Trạng thái bình thường của thư viện thực tế là một thứ Hội chợ Phù hoa theo Bunyan, nơi “thứ đặc sản của Rome được cực lực truyền bá”. Thánh kinh trong Tên của đóa hồng là dấu hiệu thượng đẳng hay mẫu mực (arch-signifier), là chính Ngôi Lời (Logos) ký gửi trong một hiện vật, có quyền uy thái thậm, tự khẳng định và cung ứng ý nghĩa chính yếu cho các dấu hiệu nối tiếp. Sự sản sinh không ngừng các dấu hiệu “con” – chẳng hạn như các suy luận thần học – hình thành ra những chuỗi tạo nghĩa (các lối minh họa, các quan điểm hệ phái, cũng như thuyết tận thế của Jorge) được cho phép tồn tại cạnh tranh lẫn nhau dưới bóng của dấu hiệu chủ, tạo thành một ảo cảnh mênh mông và vững chắc có thần thánh và quái vật, một thứ trung gian điều giải (mediate) ở mọi nơi, mọi thời điểm cách con người đối diện với hiện thực; ở trong đó con người hành xử như thể đấy là hiện thực duy nhất đối với họ. Mặt khác, thư viện khẳng định danh tiếng của mình như trung tâm của học thuật một phần rất lớn nhờ vào cách nó dung nạp/nội bộ hóa những sách vở “vô thần”; như mọi nền bá quyền hoàn chỉnh, nó xây dựng được tính cách tổng quát của diễn ngôn nhờ một mức độ tự mâu thuẫn (self- contradiction) vừa phải. Với lập luận “thư viện là chứng nhân cho chân lý và sự lầm lẫn”[3], guồng máy sản xuất của thư viện tạo ra sách để làm cả linh vật (fetish) lẫn thương phẩm (commodity); sách trở thành một loại hàng hóa phục vụ cho cả bổn phận học vấn tôn giáo lẫn nhu cầu giải trí của người tiêu thụ – hoan nghênh mọi người bước vào nền kinh tế thông tin!

Nếu định nghĩa Sợi chỉ Foucault bằng quan hệ với Eco, ông là một khâu trong liên văn bản nằm dưới nội dung của nó; cuốn sách này có thể xem như ý định bằng cách của mình phục dựng lại quan sát sắc sảo về diễn ngôn trong Tên của đóa hồng ở ngoài không gian an toàn của ông là tiểu thuyết hư cấu và thời Trung cổ. (Ngoài ra, nó cũng cộng hưởng với lối áp dụng phê phán trong những tiểu luận ông đả động tới chủ đề quyền lực, chẳng hạn bài “Ca ngợi Franti” khi ông coi cuốn Tâm hồn cao thượng/Cuore của De Amicis, với nội dung cổ vũ đức tính phục tùng, là một tác phẩm mở đường cho chủ nghĩa fascist). Như vậy, bóng dáng Eco, nếu muốn, có thể tìm thấy khắp nơi trong Sợi chỉ Foucault, (dù có thể đó là một Eco lạ hơn, đồng văn bản với Eco quen thuộc) trừ ở tên sách.

Quay về với Foucault; đưa tên ông vào tựa sách không phải để truyền bá tên tuổi, học thuyết, (lại càng không phải là một thao tác ngầm ám chỉ hiểu biết chuyên môn và để tiến thân theo bậc thang của các “đảng phái” hay “lãnh chúa” lý thuyết trong môi trường học thuật phương Tây). Ta chỉ nên coi đó như nghĩa vụ của một người viết, dù đồng tình với ý tưởng của ông nhiều hơn là tham khảo, phải ghi nhận tác quyền cho những phát hiện được công bố trước. Ở đây, chính Foucault cũng là một dấu hiệu, là khuôn mặt tiêu biểu cho trường phái tìm kiếm lối tiếp cận cái Thực (le Réel – dùng với nghĩa sâu xa hơn cái Thực, hay Thực tượng, của Lacan) bằng cách bóc dỡ dần lớp vỏ ký hiệu, mà nếu cần thiết phải nhận diện một cách bác học, chính là thế hệ triết lý giai đoạn từ cấu trúc sang hậu cấu trúc luận (structuralism/post-structuralism). Ông còn là tiền lệ theo một cách khác. Cùng với rất ít triết gia, ông không (và không thể) viết sách để nói lên những gì mình sẵn đang nghĩ hoặc biết, mà như một trải nghiệm cá nhân, để qua đó xây dựng tuần tự ý thức bản thân về chủ đề đang theo đuổi. Cũng vậy, với người đọc, ông muốn họ kiểm nhận lại cái nhìn, sự liên hệ của họ với những vấn đề cuộc sống, với hiện tại, để hướng đến một sự tự chuyển hóa (trích từ phỏng vấn đăng trên tờ Il Contributo).

“Sợi chỉ” là một hình ảnh mượn từ tựa cuốn Sợi chỉ mỏng manh của Naumov và Yakovlev, được những thế hệ độc giả thời bao cấp hoài niệm như đỉnh cao dòng truyện phản gián Liên Xô. Không có những màn bắn giết, nghệ thuật điều tra ở đây, như ngụ ý trong tên truyện, chính là khả năng theo đuổi một hành trình mông lung, đòi sự kiên nhẫn đi từ manh mối này đến manh mối khác, nhìn xuyên qua tính cách rời rạc, và xỏ xâu những sự việc nhỏ nhoi bất thường thành một cái nhìn toàn cuộc hoàn chỉnh. Cũng vậy, đây không phải một công trình tôi bắt đầu từ một khung sườn phác thảo, mà là tổng hợp nhiều chủ đề chạm đến tình cờ – sau khi đã từ bỏ nhiều khung sườn cố ý tạo ra. “Foucault” chính là “sợi chỉ” giúp tôi minh bạch với chính mình về sự lựa chọn những mối quan tâm nhìn như trải rộng, không có tiêu điểm, cốt lõi.

Có một câu hài hước truyền miệng trong giới lý thuyết về thói ngôn ngữ mờ ảo của Lacan: “- Lacan theo cấu trúc hay hậu cấu trúc luận? – Phải.” Lằn ranh giữa hai hệ phái không thật sự rõ ràng kể cả đối với chúng ta, những phàm nhân thoải mái với sự rõ ràng; có thể coi chúng như hai góc nhìn tương cận và bổ sung lẫn nhau. “Le regard” (mà tiếng Việt hay dịch là “chú mục”), với Lacan là đôi mắt vô hình của thế giới bên ngoài, từ một khoảng cách vô định, mà con người cảm thấy luôn chiếu vào mình, hình thành từ lúc đứa trẻ nhận biết mình là một chủ thể tách biệt, sang lý thuyết Foucault trở thành tác động từ hệ thống Panopticon[4] xuyên suốt xã hội văn minh. “Sợi chỉ” nối kết ở đây là sự phá hủy ảo tưởng trưởng giả về con người như một thực thể biệt lập tự chủ; dù từng phủ nhận mình không phải là người theo cấu trúc luận, vì loại hệ thống ông quan tâm không phải biểu tượng mà là hiện thực, quan điểm “cái chết của chủ thể” của Foucault gắn liền với những công trình lý thuyết của nhóm Tel Quel, và về cuối đời, sự chuyển hướng của ông về phía “các nghệ thuật sống” (les arts de vivre) gợi nhớ xa gần đến cách Lacan diễn giải các văn bản Trung cổ. Chỉ qua khung quy chiếu của cấu trúc luận mà Foucault mới được kể như đưa ra những phát biểu có tính hoàn vũ (universal) thay vì tính hệ thống và thật sự quan sát từ vị trí tương đối với hệ thống.

Cấu trúc luận có tên như vậy nhờ vào một số lý do, mà một trong số đó là sự tiếp nhận mô hình tâm lý ba thành phần của Freud: bản ngã-tự ngã-siêu ngã (Id-Ego-superego). Ba thành phần này (được Freud hình dung như ba kết cấu ghép thành một cấu trúc) có thể hiểu như các văn khố ghi chép những kinh nghiệm của chủ nhân trong một thời điểm phát triển cá tính, từ bối cảnh đặc thù mà hình thành lý lẽ riêng; chúng tranh nhau và thay nhau làm chủ thể trong đối âm tiếng nói nội tại, cất lên những phát ngôn “ta nghĩ”, “ta muốn”, “ta thấy” v.v. thông báo cho con người biết điều gì đang xảy ra với mình. Từ trên mô hình ấy, Lacan xây dựng nên cho lý luận của ông mô hình ba âm vực (registers), có thể xem như một trong những áp dụng có tính cách lý giải rõ nhất:

Việc Lacan vay mượn từ khóa từ âm nhạc để trình bày lý thuyết của ông được rất ít tài liệu lưu ý; mục đích cho mô hình này là để hình dung một quan hệ vị trí thích hợp cho Thực tượng (le Réel). Là trạng thái tiền ý thức, tiền ngôn ngữ, tồn tại trước khi con người biết phân biệt bản thân với môi trường, người ta không có cách nào tái hiện hay tiếp xúc Thực tượng và cái nhìn của nó; giống như bè trầm giữa một hợp xướng, nó không thể cảm nhận riêng biệt được trong tiếng nói nội tâm chúng ta mà chỉ tồn tại trong chiều sâu của âm thanh; cũng có thể nói nó tiếp xúc với bề mặt theo cách vật chất “thấm” xuyên qua những lớp ngăn cản.

Trái với tính ẩn mật của Thực tượng, Ảo tượng (L’imaginaire) và Biểu tượng (le Symbolique) là những âm vực phát triển cùng lúc với chức năng ngôn ngữ và dựa trên ngôn ngữ – chính vì vậy, chúng ảnh hưởng rõ tiếng nhất trong phát biểu tinh thần của cá thể. Chính nhờ ngôn ngữ mà con người trở thành một chỉnh thể; ngôn ngữ chỉ định mọi nhận biết của con người về bản thân và sắp xếp chúng theo cùng luật sắp xếp tiên thiên của ngôn ngữ – ta có thể nói con người chính là ngôn ngữ vậy. Tôi là tôi vì tôi không là nó, đầu của tôi ở cao hơn vai, nước không thể khô, hình vuông không thể tròn, v.v. sự chỉ định của ngôn ngữ tạo ra phân biệt giữa chủ thể và khách thể – chúng ta nhận ra bên dưới bề mặt thân thể mình là một không gian đặc biệt, khác hẳn với không gian lớn lao bên ngoài, tức cái Đại Tha (the Great Other). Bên trong biên giới đó là đối thoại nội tại chúng ta không nghe mà tự hiểu, cho phép mỗi chúng ta trở thành người quan sát tối cao bên trên mọi diễn biến, và là thẩm quyền duy nhất có thể diễn tả một cách hiện thực những sự thực về bản thân (self-truth).

Lacan cho câu nói của Hamlet “to be or not to be” như phát biểu ngắn gọn nhất về hoang mang chủ thể tính; chủ thể Hamlet hoặc là “tồn tại” hoặc là không, và thực thể đang chiếm giữ vị trí của chàng “phải” hoặc “không phải” “là” Hamlet. Cấu trúc luận không tin chủ thể là tất cả con người – hoặc tất cả mọi thứ về con người. Tuy ngôn ngữ diễn đạt và cách tiếp cận bất đồng giữa các lý thuyết gia, họ đều hình dung chủ thể chỉ là kiến tạo của những trải nghiệm biểu kiến đến từ bên ngoài chứ không thật sự là tất cả ý nghĩa của hiện hữu. Đưa ra khái niệm Thực tượng, Lacan muốn truy nguyên về nguyên trạng hiện hữu của con người trước khi nảy sinh bất kỳ một phân biệt sự vật nào. Từ đấy mà nảy ra một ngữ pháp mới, theo đó chủ thể bị đẩy về tiếng nói thụ động; thay vì nói “tôi nghĩ” hay “tôi làm” thì chuẩn xác hơn phải nói là “ý nghĩ/hành động đó xảy đến với tôi”. Foucault cũng hình dung một hướng phát triển tương tự khi ông kêu gọi triết lý phải dẫn đến chỗ người ta không thể còn tiếp tục suy nghĩ mà không đặt câu hỏi ý nghĩ đến từ đâu, ai mới thật sự là người đang làm hành động suy nghĩ.

[…]

Trong cuộc phỏng vấn của Il Contributo nói trên, Foucault khẳng định ông không phải là triết gia, và nếu muốn viết sách lịch sử chuyên môn, ông đã không viết theo cách mình từng viết. Sợi chỉ Foucault cũng vậy; nó rõ ràng không được (và không xứng) gọi là triết học chuẩn mực. Nó cũng không giống với phê bình, nghiên cứu văn chương; đối với tôi, cũng như không văn bản nào hoàn toàn vô nghĩa, không có văn bản văn học nào, kể cả kiệt tác văn học, tự nó có nghĩa cả. Các tác phẩm văn học được đặt lẫn lộn và song song những cảnh huống ngoài đời, vì đối với tôi, chúng đều chỉ là trải nghiệm, những sự việc tôi đã gặp qua trong cuộc sống. Sự phân loại hàn lâm – chẳng hạn cách nhìn hậu thuộc địa về Vũ Trọng Phụng – cũng như tên gọi Foucault, chỉ là những dấu hiệu thuận tiện để không phải trở về lại từ lúc con tằm nhả ra tơ. Vì nhu cầu tài liệu giản dị, và để giữ một sân chơi bình đẳng với người đọc, tôi đã chủ ý dùng hầu hết những văn bản phổ biến trên mạng và tránh tham khảo các nghiên cứu chuyên ngành.

Khi thử chú thích cái Thực của phương Tây bằng cách viện dẫn những Chân Như hay Toàn Chân, những “thanh tịnh bổn nhiên vân”, “núi là núi sông là sông”, tôi bỗng luyến tiếc thời đại châu Á mới tiếp xúc với sách vở châu Âu, khi các trí thức Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam, xuất thân từ nhà Nho, có thể tự do diễn dịch các khái niệm ngoại ngữ ra tiếng bản xứ bằng điển cố lấy từ sách vở cựu học, mà không e ngại sẽ bị phê phán đã dùng một chủ nghĩa so sánh nôm na, ví von mong manh nhiều mặc cảm hậu tiến, và cả cái tội “dĩ Trung vi tâm” (Sinocentrism), coi mọi chân lý đều từng nói tiếng Hán. Đây là một mất mát cho người đọc: Đức Phật chẳng hạn, là một nhà cực hiện thực (hyper-realist) – chỉ cho ngài thấy một mỹ nhân và ngài nhìn thấy một xác chết. Nhưng cũng một sự việc ấy, có một sự phán xét tôi sẽ không vội phủ nhận, đó là tội viết triết học bình dân (pop philosophy). Không nên nghĩ đơn giản bình dân như những người đọc cần biết triết học – luôn luôn, họ còn là những người đọc cần được giới thiệu cho triết học. Như Umberto Eco chỉ ra, tri thức trong tay một tập thể thuần học giả sẽ trở thành thứ tri thức được tầm chương trích cú, sao chép, và phiên dịch; học giả là những nô lệ của hình thức, chưa hẳn đã phải đối tượng lý tưởng cho việc tiếp nhận triết học. Khi triết học trở nên quá sức chịu đựng của học giả, sự tiếp xúc không chuyển hóa mà đem lại sự hủy diệt, theo cách của Sư huynh Jorge. Việc viết sách này giúp tôi khám phá những sự thật nhỏ nhưng quan trọng ẩn trong đời sống chung quanh mình, chẳng hạn, tiếng Việt, tuy là ngôn ngữ chịu đa số những sự giảng giải và chú thích như kẻ dưới cơ trong quá trình trao đổi văn hóa, vẫn còn những vùng nguyên sơ mà Tây phương mong đợi chưa bị thiết chế hóa chung quanh Lý niệm (Logocentrically institutionalized): nó vẫn còn biết chia ra chữ Truth hay Vérité của phương Tây thành sự thực chân lý.

Những gì từng được viết về bản thể người Việt trước đến nay đều nghiêng về một trong hai khuynh hướng: phong tục học (ethnography) kê cứu dữ liệu, hoặc lý tưởng hóa. Điển hình cho khuynh hướng thứ hai là Kim Định: phương pháp của ông không phải là miêu tả mà là cách điệu, hay có thể nói, là một sự tự “hương xa” hóa (internal exoticization)[5]; người Việt của ông giống với hình khắc vĩnh cửu trên trống đồng Đông Sơn hơn những người sinh sống nơi làng xóm phố phường. Sợi chỉ Foucault, trái lại, tìm kiếm ý nghĩa ở những gì hiện thực và ít huyền thoại nhất trong sinh hoạt người Việt; nó không khảo sát, mà suy tưởng, về hình ảnh người Việt (trong bối cảnh Đông Á) ăn thịt chó, xem tử vi, tướng mệnh, đọc truyện kiếm hiệp và luyện tập võ thuật v.v. và quan trọng nhất, cách họ tự vệ bằng ngôn ngữ, như biểu hiện chủ quan sinh thức. Tạo ý nghĩa cho một sự việc, theo ngôn từ của cấu trúc luận, là phủ nhận nó không phải/ không thuộc về những sự việc khác; khi lựa chọn những góc cạnh trên đưa vào sách, tôi muốn chứng tỏ có một tồn tại con người Việt đứng ngoài và đứng chệch ra khỏi vô số những cách thức chồng chéo nhau muốn giới hạn và chỉ định ý nghĩa con người; chúng là những ví dụ cho “các nghệ thuật sống” mà Foucault nói đến.

Theo đúng truyền thống liên văn bản, các nghệ thuật vừa được gọi tên trên hiện rõ bản chất và nội hàm nghệ thuật của mình chỉ sau khi chúng đã giáp mặt, va đập, chạm đến, dung nhập và bài xích các nghệ thuật, phản nghệ thuật, bàng nghệ thuật (pseudo art), và “vị biệt”[6] nghệ thuật – về bản chất, một cuộc trôi dạt giữa các văn bản. Bối cảnh từ đó những văn bản kia nổi lên kết hợp hỗn loạn sinh-chính trị, lịch sử đồng tính luyến ái, chủ nghĩa cách mạng, xuất xứ của đạo độc thần, quỷ nhập tràng và hội kín, thể hình nữ, và cả thuyết Siêu nhân loại (Transhumanism) v.v. mọi hình thức thiết kế con người, trong cái khung hậu cấu trúc luận. Trong bài “Thân thể toàn trị”, Zizek đã nối liền hai mục tiêu, nắm giữ cái Thực và xây dựng một thân thể “cao cường” (sublime)[7]; tất cả mọi nghệ thuật và phản nghệ thuật sống, ông hẳn đã nhận ra (dù không dùng cùng ngôn từ), đều dùng phương tiện là tác động, lên bản thân và lên người khác, về mặt thân thể.

Như tinh thần “chủ thể biến mất”, có vẻ như chuyện chỉ có một tên tác giả xuất hiện trên trang sách là một việc đáng buồn: đó là người nhận mọi trách nhiệm, nhưng vẫn phải chia công với người khác. Trang viết này là vị trí cuối cùng chữ “tôi” (và cái “tôi” của người viết) còn xuất hiện; tuy nhiên, nó sẽ tồn tại như một hình bóng giữa những dòng viết và lẫn lộn vào những ý tưởng của nhân loại, thành một chủ thể cộng hệ bao gồm cả người đọc. Nếu đây là một giấc mơ, xin vui lòng chấp nhận. Vì không còn nhiều thời gian, “tôi” xin mượn những dòng cuối này để cảm ơn con số rất ít ỏi những bạn hữu thường quan tâm theo dõi việc viết ra cuốn sách. Họ biết họ là ai. Và sau cùng, “tôi” xin tặng nó cho một người vô cùng quan trọng, người mà, dù cho có đọc sách, cũng không thể tưởng tượng chỗ này đang nói về mình.

Trần Thiện Huy

(Ảnh: “Ariadne’s Thread” của Andre Masson, 1938)

 

THE FOUCAULT THREAD

CHAPTER 1: THE NAME OF “THE ROSE” – IN LIEU OF AN INTRODUCTION

I am a man because I talk nonsense! You never

reach any truth without fourteen nonsense talks

Dostoevsky, Crime and Punishment

Now, outside of time and space, Llixgrijb

started working on its greatest achievement:

a universe with height, width, depth and time

 – a universe with the illusion of chronological

history. And then it chose to create imaginary

entities for its entertainment – imaginary

 entities like yourself, gentle reader. But Llixgrijb

 was afraid. “Suppose my creatures discover

 they are only phantoms,” wondered Llixgrijb –

“suppose they learn that I am the only reality…”

Coleman & Perrin –The Jamais Vu Papers

 

To people who insist on linking the two names, Umberto Eco had to forcefully plead not guilty, telling those who would listen that his book title, Foucault’s Pendulum, is not about his old friend Michel at all. On the contrary, this book declares upfront that, just like the sound of its name, it has everything to do with the implicated French philosopher and his ideas.

Foucault’s ideation extended over a long career, consistently changing subjects and recognizing new angles; herein, having no desire to write an academic treatise, I would not place much stock in the twists and turns of his history, leaving it to biographers whose bread and butter is dates and variants. The Foucault Thread does not invoke his name to indicate his particular person, with matter-of-record up-and-downs, position shifts, errors, and shortcomings (imagine, a Frenchman in the 70s loving club sandwich with Coca Cola!) but as an episode, or a singular theoretical landmark. That is one way to avoid the disciple mentality, which is to always wonder what the Master would have said about this or that right now if he was alive, and substitute that with a French-originated clichéd cry of battle, je suis Foucault.

While planting on readers a vague association with a bestseller is possibly a fortuitous way to sell books, this writer sees only in his book, if hard pressed, parallels to another market rousing title by Eco, The Name of the Rose – the story of a man travelling through a chaotic wilderness of signs searching for truth (which is almost analogous to “searching for truth’s name”, or “trying to name truth”), in the midst of a calamitous, continent-scaled battle for the power to decide “the Correct Reason” (with emphasis placed on Reason rather than Correct). Viewed by Eco as a laboratory of signifiers, the novel is a miniature model allowing us to observe a system whose established discoursal hegemony has been and is still being reinforced, and with a construct that virtually could not have existed in the Middle Ages (a colossal library housed in only one floor of a building, and effectively overseen by only one librarian) but rather resembles the situation with hypertexts and digitalization, while purportedly speaking of the Middle Ages, it most likely speaks about our shared modernity.

Per his own words, Eco meant for the library to serve as metaphor for the vast world outside; accordingly, we can infer that the abbey and its surrounding villages together make up the corresponding dream world – an inversion of the way people usually envision culture and everyday life side by side allegorically[8]. Every night, dignified, learned monks immersed in the library-summoned spiritual realm – which to them is reality – retire to their dwelling not unlike walking into nightmares: where hatred, lust and dreads are unleashed. The dark, grotesquely adorned abbey cannot contrast more with the bright tranquility of their scriptorium; in that nightmare, their sublime, inculcated selves are “slain” for unadmitted secrets. However, the scriptorium is just a facade; advancing into the library’s heart – which is categorically not allowed – one would discover that hideous creatures displayed throughout the abbey have been copied out of book instructions, and that from culture too evil has been generated. The abbey, in the monk Aymaro’s words, defends the library like a citadel; dreams, including nightmares, also make up the defense of the waking world, and ultimately, it is from the waking world that total destruction befalls, once said world invaded by nightmares.

This is a book about books: William de Baskerville’s skill of playing detective, or navigating through the Library’s labyrinthine architecture, has been introduced at the beginning as the application of knowledge about “the way monks read the books of Scripture, and how they thought through them”. In a world where reading is to reach “reflection of the divine wisdom”, that means interpreting how men read and view books. For these captives in an immense library, books replace all transactional means, and become the preoccupation that allows them to feel some continued existence; in such places, the different ways to read and relate books to books are the very keys to all thoughts and behaviors.

The library’s normalcy is virtually a Bunyanian Vanity Fair, where “the ware of Rome and her merchandise is greatly promoted”. To the Rose’s world, Sacred Scripture is the uncontested Arch-signifier, the awe-inspiring Logos itself encased in an artifact; it overflows with authority, is self-affirming and supplies succeeding signifiers with essential meanings. Constant proliferation of “offspring” signifiers – theological speculations, for one – gives shape to signifying chains (illustration styles, groupuscule viewpoints, or Jorge’s apocalypticism) which are allowed to stay in mutual competitions under the penumbra of the Arch-signifier, and in tandem form simultaneously a cosmic, concrete simulation featuring angels and demons, and an omnipresent eclipsing field that mediates men’s vision of reality; inside such a simulation, men behave as if it was the only reality known to them. On the other hand, the library solidifies its reputation as the center of learning with its way of integrating/domesticating “infidel” books – just like any complete hegemony, it manages to establish its discourse’s universality due to optimal presence of some self-contradictions. Thanks to the “library is testimony to truth and to error”[9] line of reasoning, the book-generating apparatus maintained by the library creates books to be both fetishized objects and a commodity; books become a kind of merchandise that serve both the religious education’s duties and consumer entertainment needs – welcome to the Information Economy!

If the Thread is to be defined in terms relating to Eco, he might be seen as a link in the hypertext beneath its content; this book might well be taken as an attempt to, in its own way, recreate the astute perception of discourse in the Rose outside of his safe spaces, that are genre fictions and the Middle Ages. (In addition, it also resonates with the way Eco applied criticism in essays where he touched upon the topic of power, for instance, “In praise of Franti,” in which he described De Amicis’s Cuore and its promotion of conformism as paving the way to fascism). Thus, the spectre of Eco, if one wishes, could be found everywhere within the Thread (even though that might be a stranger Eco, coextending on the same texts with the popular one) – except in its title.

Back to Foucault: placing his name in the Thread’s title is not to promote a thinker and his thinking (even less as a surreptitious move to flash one’s expertise and seek advancement up the ladder of theoretical “parties” or “overlords” in Western academia). One should see in that solely the fulfilling of obligations by a writer – one “assents to” more than “affiliates with” his ideas that may be – by recognizing the owner’s rights to insights that come with getting there first. As such, Foucault is also a signifier, a face of the philosophy school that seeks to access the Real (which is not exactly congruent to the Lacanian Real) by peeling off layers of signs; if scholarly specificity is demanded, we might find that school in the transera generation of philosophers bridging structuralism and post-structuralism. He is a precedent in another way. As is the case with very few philosophers, he did not (and could not) write books telling what he thought or knew already, but tried to make the writing process personal experiences, and through that, to gradually build for himself a evolving consciousness about the targeted topic. Just the same with his readers; what he wished for them is to form a drive to reexamine the way they viewed and related to life’s issues, to the presence – to emerge from that transformed (from his interview conducted by the magazine Il Contributo).

The thread is a figure of speech borrowed from Naumov and Yakovlev’s The fine thread, an object of nostalgia among Subsidy period fans, considered the best achievement ever by the Soviet counterspy genre. Having no action scene, the novel praises a form of tradecraft, as indicated in title, that consists of the patient ability to conduct round-the-clock impromptu inquiries, painstakingly pursue from one clue to the next, penetrate through chaos incisively, and form a complete conclusion by a method akin to stringing together a hodgepodge of petty anomalous occurrences. I view this book in a similar way, not as something built from a blueprint or outline, but a synthesis of many topics reached unanticipated – after abandoning many charted outlines. “Foucault” as such is the “thread” that allows me to elucidate the choice of seemingly overdispersed interests that support no focus or core to myself.

The following quip is well known among students of theories about Lacan’s knack for mystifying language: “- Is Lacan a structuralist, or a post-structuralist? – Yes.” The separating line between the two groups is not really clear, even to us mortals, those comfortable with clarity; we might instead view them as two mutually convergent and complementing angles. “The gaze”, to Lacan is the invisible eyes of the Other, from infinite distances, that men always sense as fixed upon them and emerges from the second a child sees in his mind himself as a separate subject, onto Foucault’s theory becomes the Panopticonic effect that impregnates the whole civilized society. The connecting “thread” here is the shattering of bourgeois illusions about man being a self-sovereign subject; albeit having denied being a structuralist, because he was interested more in live than abstract kind of systems, Foucault’s notion of “the dead of subjects” is closely related to contemplative works by the Tel Quel group, and toward the end of his life, his orientation switch to “arts of living” distinctly reminds one of the way Lacan read medieval texts. At the end, only through the structuralist frame of reference that Foucault might be taken as a speaker of universality instead of systematicity, and an observer from a position relative to the System.

Structuralism acquires its name due to several reasons, one of them being its inheritance of Freud’s trilateral model of the mind, the three parts being Id/Ego/Superego. The three components (which Freud visualized as three partitions of an architecture) could be conceived as repositories of the host’s experiences accumulated during a developmental episode, each having its particular way of reasoning due to being formed in a distinct context. Each of them tries to, and at occasions succeeds, in being the dominant line in the everlasting polyphony that verbalizes to the whole person “I think”, “I wish”, or “I feel” statements – in essence, telling the organism what is occuring to it. From that ground, Lacan has built, to be used in his theses, the model of three registers, which for many is the explanatory application with most zest and finesse.

Lacan’s borrowing from musicology’s jargon for his theoretical use is a fact realized by very few reviews; this practice has the purpose of arranging an appropriately visualized and depicted space for the Real. Being a pre-conscious and pre-linguist state that is the Gestalt before individuals learn to differentiate environment from their selves, the Real and its views cannot possibly resurface or open for accessibility underneath the trauma of such learnings; just like the lowest voice in choral ensembles, it is not separately perceptible within inner verbalizations, but is woven into the sounds’ deepness. One might say the Real comes into contact with the surface the way some matters “soak” through blocking substances.

In contrast with the Real’s stealthiness, the Imaginary and the Symbolic are registers that are co-developed alongside language and language-based – which helps them to be most audible within the volume of psychical inner statements. Language plays the dominating role in man’s becoming a complete entity; it is through language that the organism’s self-cognizance is given shape and order the à priori way language is ordered – it is not incorrect to say “man is language”. I am Me because I am not Him, my head is higher than my shoulders, water cannot be dry, a square cannot be round, etc., linguistic indicativity leads to differentiation between “in here” and “out there” – we learn through that that underneath the surfaces of our own body housed a special space that distinguishes itself from the vast, all-encompassing outer space, the Great Other. Within such a boundary an inner dialogue commences, which we understand without listening, allowing each of us to be crowned the privileged observer over all that is happening, as well as the sole authority that can realistically relay any self-truth.

Lacan took Hamlet’s “to be or not to be” exclamation as the most succinct pronouncement of subjective ambivalence – whether Hamlet indeed “be” a Subject, and whether that Subject “be” the whole of Hamlet. Structuralism is not convinced that the Subject covers the whole Man, or that it accounts for everything Man is about. Despite the variety of discerning styles among theorists, they all view the Subject as a construct acquired from external appearances, and believe that being a Subject is not “being” itself. With his postulation of the Real, Lacan wished to trace back to being’s originality before differentiations, thus giving rise to a new grammar, one that transforms the Subject’s voice with passivity – which says “I am thought” instead of “I think”, or “I am acted” instead of “I act”. Foucault was aiming at the same prospect when he implored a path for philosophy that makes it impossible in the future “to think without thinking about who is doing the thinking”.

[…]

In the above mentioned Il Contributo interview, Foucault categorically affirmed that he was a non-philosopher, and that, had he wished to write history academically, he would not have written the way he did. The Thread has been conceived likewise; it is apparently (and deservedly) not considered proper-formed philosophy. Neither is it exactly a work of literature studies or criticism; to me, by the same token that no text is completely devoid of meanings, no literature – including great works – inside a vacuum might have any. Herein, literature works are juxtaposed and mixed with scenarios of how life is lived at many walks, as to me, they all bear the shape of personal experiences. Academic namings – for example, post-colonialism upon Vũ Trọng Phụng’s writings – are, just like the name Foucault, practically shorthand signifiers that spare me the problem of going back in time and reinventing the wheel. Keeping my reference needs minimal, and intending to keep the reader on equal footing, I used mostly sources readily available online, and cited frugally from scholarly formatted ones.

Having tried to cross-reference the Western (or Northern these days) Real to concepts such as Buddhism’ Bhūtatathatā, the Taoist Complete Reality School, Chõsui’s “Original Pure” koan, or Seigen’s Zen assertion “mountains are once more mountains”, I suddenly felt nostalgic for the early days of Western thoughts’ introduction into East Asia, when Vietnamese, Chinese, or Japanese intellectuals, being former Confucians, can liberally make uses of terms from their classical learnings to describe foreign concepts, without the fear of being accused of an airy philistinism and pedestrian comparativism that over-compensates Third World disadvantages, or worse, of the sin of Sinocentrism for acting like all truths have at one time spoken Han[10]. This is a reader’s loss; Gautama Buddha, for instance, can be a role model for hyper-realists; point to Him a fair maiden and He sees a dead corpse. However, for doing the same thing, there is a charge that I would not rush to refute: that of doing pop philosophy. It is simplistic to think of popular readers as merely those that need to be introduced to philosophy; they also need to be introduced for philosophy’s sake. As shown by Umberto Eco, knowledge held in the hands of an exclusive scholars’ collective will eventually be treated as objects for reverent echolalia, translating and copying; being slaves to formalities, scholars are not necessarily ideal receivers of philosophy. When philosophies prove to be overbearing to scholars, their reception does not transform, but destroys, in the ways of Brother Jorge. The time put into this book helps me realize little but crucial facts concealed in life around myself – for instance, that the Vietnamese language, being the side that seems to need things spelled out like a johnny-come-late in most idea exchanges, turns out to have retained unadulterated corners of the kind of language that the West awaits, a yet to be Logocentrically institutionalized language; it still has the sense to split its literal translation of the Western “Truth” into two uninterchangeable terms, which mean respectively “true reasoning” and “true fact”.

On the Vietnamese ontology, everything that has borne relevance thus far leans to one of the following two directions: either ethnography-like, which is contend with compiling data, or idealistic methodologies. The prominent representative for the latter is Kim Định – the late philosopher did not engage in description as much as stylization, or, one might say, an internal exoticizing mode of speech, and the Vietnamese figured in his erudite tomes is related more to eternal reliefs on Đông Sơn bronze drums than those peopling streets and villages. The Thread, in contrast, wishes to do with as much realism and as little potential mythologizing as possible; it places emphasis not on examining but on contemplating the Vietnamese profile (against the East Asian context), by which they would be seen as coherent actors via eating dog meat, consulting horoscope or physiognomy, reading wuxia, and training in martial arts, etc., but most importantly, via their verbal self-defense. To signify something, in structuralese, is to exclude it from every other signification; with the choice of those life angles, my idea is to prove that there is an image of the Vietnamese that deviates from, and transcends the entangled modalities that limit and define humanness; they are examples of nothing short of the “arts of living” as Foucault imagined.

After hypertextual tradition, the above named arts enfold their characteristics and contents only after having contradicted, crashed with, encroached or touched upon, assimilated and repudiated other arts, anti-arts, pseudo-arts, and “différant”[11] arts – in essence, a drifting journey among texts. The background from which different kinds of “arts”, or texts, materialized include the bewildering nexus of biopolitics, homosexual history, revolutionism, the birth of monotheism, vampirism and secret societies, female bodybuilding, and even the now-imminent doctrine of Transhumanism, etc., in short, all manners of engineering humans, structuralistically framed. In his essay “The Totalitarian body”, Zizek has connected twogether two partisan objectives: to master the Real and build a sublime body. Although with different wordings, he has stumbled upon a crucial notion: that all living arts and anti-arts work out from the approach of affecting, selves and others, bodily.

As they say “the subject is disappearing”, it thus seems a lamentable state of affairs to have only one author name on book covers; the way it works is that person would take all blames and share credits. This page is the last position the word “I” (and the author’s “I”) shows up; however, it will remain, like a shadow, somewhere between the lines and mix in with the multitude of thinkers out there, including you, the readers, in thoughts. If this is a dream, so be it. Without much time left, “I” will use these last lines to thank the very few friends that have consistently shown interest in the writing of this book. They know who they are. Finally, “I” dedicate this book to a very important person, who would not recognize that this is about them even if they read the book.

Tran Thien Huy

[1] Biệt thời là chữ của Kim Định dùng chỉ thời gian tiến theo một hướng về phía trước, chia rõ làm quá khứ, hiện tại, tương lai (ở đây dùng dịch chữ chronological).

[2] Sự đảo nghịch này hợp lý nếu ta nhớ lại rằng mộng mị là phạm vi của những gì tăm tối và bản năng bị trấn áp (repressed) trong con người. Mộng đồng thời cũng là cách hệ thần kinh tự bảo vệ mình khỏi áp lực. Có thể coi thế giới hai tầng: Eloi và Morlock trong Cỗ máy thời gian của Wells như một ẩn dụ khác của kiểu tương quan này.

[3] Đây là câu Jorge trả lời William khi ông này thắc mắc việc thư viện dịch câu chuyện ngụ ngôn của Lucian, trong đó có những miêu tả về tà thuật, mục đích là để đổi bản dịch lấy quyền lợi kinh tế từ một vị lãnh chúa. Mọi trích dẫn ở đây chép theo bản dịch của Lê Chu Cầu.

[4] Xem chương 2 “Utopia không có thịt chó”.

[5] “Hương xa” là từ ngữ của sân khấu cải lương, dùng chỉ những tuồng tích có bối cảnh các xứ sở bên ngoài vùng Đông Á. Một thời đây là trào lưu dùng để thu hút khán giả bằng sự khác lạ; xét thấy “hương xa” là từ ngữ chuyển tải ý nghĩa của “exotic” cách toàn vẹn nhất.

[6] Dịch chữ “différance” của Derrida. Xem thêm ở chương 4.

[7] Theo lẽ có thể dịch là “thăng hoa”, nhưng ở đây muốn phiên dịch suy nghĩ hơi có phần châm biếm của Zizek.

[8] The inversion makes sense if one is reminded that dreaming is the sphere in which the dark, instinctual side of the psyche is repressed. It is also the way the nervous system relieves itself of tension. One might consult the Eloi vs Morlock imagery in H.G.Wells’ Time Machine for another allegory of the relationship.

[9] That is Jorge’s answer to William’s curiosity about the library’s practice of translating magical-themed books (which will be traded for economic benefits).

[10] In Vietnamese culture, all Buddhist terms are Sinicized and imported from Chinese teachings.

[11] From Derrida’s “différance”. See chapter 4.

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Trần Thiện Huy
Các bài viết khác

Một người hay nói về sách, dù đọc rất ít