Thời gian đọc: 8 phút

Sự nghiệp văn chương của W. G. Sebald đang ở đỉnh cao thì ông qua đời trong một vụ tai nạn ô tô vào tuần trước (14/12/2001). Trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của mình, ông đã nói với Maya Jaggi về thuở trưởng thành ở Bavaria sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cách tiếp cận gián tiếp của ông với Holocaust và vì đâu ông vẫn viết bằng tiếng Đức sau 35 năm đặt chân đến Anh.

 

Tôi phỏng vấn Max Sebald lần đầu tiên vào tháng 9, một trong những lần ông miễn cưỡng nhượng bộ để được quảng bá mà ông thực hiện với sự tử tế lẫn hài hước tỉnh bơ. Trong căn phòng chật chội, bướng bỉnh không chịu có máy tính của mình tại Đại học East Anglia, nơi ông là giáo sư môn văn học châu Âu, ông cho tôi xem một bức ảnh màu sepia của một cậu bé thuộc gia tộc ở Bavaria của mẹ ông, người sẽ trở về với bệnh tâm thần sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. “Tấm ảnh này được chụp trước khi cậu ta biết điều đó,” Sebald lấy làm kinh ngạc trước nét mặt ngây thơ ấy. “Tôi thấy nó thật đáng sợ – cái nỗi bất lực không thể nào biết được chuyện gì sắp xảy tới.”

 

Những lời đó làm tôi rúng động khi tôi biết tin ông đã qua đời vào thứ Sáu tuần trước, ở tuổi 57, trong một vụ tai nạn xe hơi ở Norwich. Trong những bức ảnh cũ mà ông đã đưa cho tôi, cậu bé Max (tên thứ ba của ông là Maximilian) đứng trước dãy Alps ở khu vực Bavaria, mặc chiếc quần đùi da truyền thống mà cậu rất ghét, chẳng hề biết đến chuyện tài năng văn chương của mình rồi sẽ nở rộ muộn màng (tận đến giữa những năm tuổi 40 ông mới bắt đầu viết “văn hư cấu”), lẫn việc sự nghiệp của ông sẽ bị đứt đoạn bất thình lình ở đỉnh cao năng lực. Ông vừa chuyển từ nhà xuất bản nhỏ Harvill sang một thỏa thuận hậu hĩnh với tập đoàn Penguin. Tập thơ văn xuôi đầu tiên của ông, After Nature (nguyên văn tiếng Đức Nach der Natur. Ein Elementargedicht, tạm dịch Theo Tự nhiên) và cuốn sách phi hư cấu Air War and Literature (nguyên văn tiêu đề tiếng Đức Luftkrieg und Literatur, tạm dịch Không chiến và Văn học) sẽ được Hamish Hamilton xuất bản bằng tiếng Anh vào năm tới.

 

Cuộc hội thoại đã được biên tập này, được công bố lần đầu tiên ở đây, là lần xuất hiện hiếm hoi trước công chúng của Sebald – lần cuối cùng của ông ở Anh – và diễn ra vào ngày 24 tháng 9, với sự hợp tác của Trung tâm nghệ thuật South Bank, trước Hội trường Nữ hoàng Elizabeth chật kín ở London. Buổi nói chuyện chính là sự kiện St Jerome[1] thường niên của Trung tâm Dịch thuật Văn học Vương quốc Anh thuộc Đại học East Anglia[2] mà Sebald là người sáng lập và ủng hộ nhiệt tình. Mặc dù Sebald đã tới Anh vào giữa những năm 60, và sống với vợ là Ute trong một ngôi nhà công vụ cũ ở ngoại vi Norwich, ông chỉ viết bằng tiếng Đức. Song ông chẳng cảm thấy như ở nhà tại đất nước nào. “Bến đỗ lý tưởng của tôi,” ông nói với với vẻ sầu muộn phỉnh phờ, “có lẽ là một khách sạn ở Thụy Sĩ.”

 

Maya Jaggi: Ông sinh ra ở Wertach im Allgäu, vùng Bavaria, vào ngày 18 tháng 5 năm 1944, trong những năm tháng suy tàn của Đệ tam Đế chế. Ông có thể mô tả gia cảnh của mình như thế nào?

G. Sebald: Wertach là một ngôi làng với khoảng một nghìn cư dân, trong một thung lũng bị tuyết bao phủ suốt năm tháng một năm. Đó là một nơi tĩnh lặng. Chủ yếu tôi được ông nội nuôi dưỡng, bởi vì bố tôi đến tận năm 1947 mới trở về từ trại tù binh chiến tranh, và làm việc ở một thị trấn nhỏ gần đó nhất, nên tôi hầu như không bao giờ gặp bố. Tôi đã sống ở nơi đó cho đến khi tôi khoảng tám tuổi. Bố mẹ tôi xuất thân từ tầng lớp lao động, tiểu nông, chăn nuôi trồng trọt, và đã thành công trong thời kỳ phát xít; bố tôi xuất ngũ với tư cách là đại úy. Trong nhiều năm, tôi không biết chúng tôi thuộc tầng lớp nào. Rồi “phép màu kinh tế” của nước Đức mở ra, thế là gia đình tôi lại vươn lên; bố tôi giữ một vị trí “khá khẩm” trong tầng lớp dưới trung lưu của xã hội.

 

Chính giai tầng xã hội đó là nơi mà cái gọi là sự bưng bít tập thể xuất hiện nhiều nhất. Cho đến khi tôi 16 hay 17 tuổi, tôi thực sự chưa từng nghe gì về lịch sử trước năm 1945. Chỉ khi 17 tuổi chúng tôi mới được xem một bộ phim tài liệu về việc mở trại Belsen[3]. Nó ở đó, và bằng cách nào đấy chúng tôi phải hiểu chuyện gì xảy ra – điều mà tất nhiên là chúng tôi đã không làm được. Đó là vào buổi chiều, sau đó thì có trận đấu bóng đá. Vì vậy, phải mất nhiều năm để tìm hiểu điều gì đã xảy ra. Vào giữa những năm 60, tôi không thể nào tưởng tượng nổi những sự kiện ấy mới chỉ xảy ra vài năm trước.

 

Chuyện đó càng choán lấy tâm trí tôi nhiều hơn khi tôi đến đất nước này [vào năm 1966], bởi vì ở Manchester, lần đầu tiên tôi nhận ra rằng các sự kiện lịch sử này đã xảy ra với những con người thật. [Một nhân vật trong The Emigrants (1993) (Ký ức lạc loài) được xây dựng một phần dựa trên ông chủ nhà dân Manchester của Sebald, một người tị nạn Do Thái.] Ta có thể lớn lên ở Đức trong những năm sau chiến tranh mà không hề gặp một người Do Thái nào. Có những cộng đồng nhỏ ở Frankfurt hoặc Berlin, nhưng ở một thị trấn tỉnh lẻ ở miền nam nước Đức, người Do Thái không tồn tại. Mãi sau ta mới nhận thức được là họ đã ở tất cả những nơi đó, là bác sĩ, người chỉ chỗ trong rạp chiếu phim, chủ gara, nhưng họ đã biến mất – hoặc đã bị làm cho biến mất. Thế nên đó là một quá trình gồm nhiều giai đoạn nhận thức liên tục.

 

MJ: Tác phẩm của ông kết hợp các thể loại – tự truyện, du ký, tiểu luận suy ngẫm – và xóa nhòa ranh giới giữa thực tế và hư cấu, nghệ thuật và tư liệu. Ông đã nói những sự kiện lớn là sự thật còn phần chi tiết được sáng tạo ra. Điều gì đã truyền cảm hứng cho cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông, Austerlitz (Một cái tên – Austerlitz), và nhân vật Jacques Austerlitz?

 

WGS: Đằng sau Austerlitz ẩn giấu hai hoặc ba, hoặc có lẽ ba người rưỡi, những người thật. Một người là đồng nghiệp của tôi và một người khác là người mà tôi tình cờ xem được trong một bộ phim tài liệu của Kênh 4. Tôi bị cuốn hút bởi câu chuyện về một phụ nữ có vẻ là người Anh [Susie Bechhofer], mà cuối cùng lộ ra rằng bà đã đến đất nước này cùng với chị gái sinh đôi của mình và được nuôi dưỡng trong một gia đình gốc Wales theo tư tưởng Calvin. Một người trong cặp song sinh đã chết và người sống sót chưa bao giờ thực sự biết rằng nguồn gốc xuất thân của mình là từ một trại trẻ mồ côi ở Munich. Câu chuyện khiến tôi cực kỳ đồng cảm; nó mang tâm trí tôi quay về Munich, thành phố lớn gần nơi tôi đã lớn lên nhất, vì vậy tôi có thể thông cảm được với nỗi kinh hãi và đau khổ.

 

MJ: Jacques Austerlitz lúc đã ngoài 50 mới nhớ lại được những ký ức khi đến Anh từ Praha theo chương trình Kindertransport[4]. Phần lớn tác phẩm của ông là về ký ức: sự không đáng tin cậy của nó, sự tái hồi vụn vỡ của nó sau khi bị kìm nén. Văn chương có đóng một vai trò đặc biệt trong việc hồi tưởng không?

 

WGS: Cốt lõi đạo đức của văn chương là câu hỏi lớn về trí nhớ. Theo tôi, dường như rõ ràng là những người không có trí nhớ có cơ hội sống một đời hạnh phúc lớn hơn nhiều. Nhưng đó là thứ mà ta bất khả chạy trốn: cấu trúc tâm lý khiến ta có xu hướng ngoái đầu nhìn lại. Ký ức, ngay cả khi ta kìm nén nó, sẽ quay trở lại với ta và sẽ định hình cuộc sống của ta. Không có ký ức thì sẽ không có viết lách gì cả: sức nặng cụ thể mà một hình ảnh hoặc cụm từ cần truyền tải đến người đọc chỉ có thể đến từ những điều đã được ghi nhớ – không phải từ ngày hôm qua mà là từ rất lâu trước đây.

 

MJ: Tác phẩm của ông rất gián tiếp và e dè trong việc tiếp cận Holocaust; ông tránh sự giật gân. Ông nghĩ thế nào về tình huống khó xử của những cây bút hư cấu khi đương đầu với chủ đề này.

 

WGS: Trong lịch sử văn chương Đức thời hậu chiến, trong 15 hay 20 năm đầu tiên, người ta tránh đề cập đến cuộc bức hại chính trị – việc giam giữ và tiêu diệt có hệ thống cả dân tộc và các nhóm người trong xã hội. Sau đó từ năm 1965 điều này trở thành mối bận tâm của các nhà văn – không phải lúc nào cũng có hình thức đúng đắn. Vì vậy, tôi biết rằng viết về chủ đề này, đặc biệt là với những người gốc Đức, đầy rẫy những nguy hiểm và khó khăn. Có thể dễ dàng phạm phải những sai sót ngớ ngẩn, về mặt đạo đức và thẩm mỹ.

 

Rõ ràng là ta không thể viết trực tiếp về nỗi kinh hoàng của sự bức hại khi đẩy đến mức cực độ, bởi vì không ai có thể chịu đựng được khi nhìn những điều này mà không mất trí. Vì vậy ta sẽ phải tiếp cận nó từ một góc độ, và khéo léo làm cho người đọc hiểu rằng những chủ đề này là bạn đồng hành lâu dài; sự hiện diện của chúng phủ bóng lên mọi sắc thái mỗi câu được viết. Nếu ta có thể làm cho điều đó được chấp nhận, thì khi đó mới có thể bắt đầu bênh vực cho việc viết về những đề tài này.

 

MJ: Sách của ông mang cảm giác tư liệu, sử dụng những tấm ảnh đen trắng không có chú thích, nhưng nhân trạng của chúng không rõ ràng, hoặc giả như những bức ảnh chân dung liệu có tương ứng với con người trong văn bản. Mối quan tâm của ông đối với nhiếp ảnh là gì, và tại sao ông lại cố gắng khiến người đọc không chắc chắn được sự thật là gì?

 

WGS: Tôi luôn quan tâm đến những bức ảnh, thu thập chúng một cách ngẫu nhiên mà không theo hệ thống. Chúng thất lạc, rồi lại trồi lên. Hai năm trước tại một cửa hàng đồ cũ trong khu East End ở London, tôi tìm thấy một tấm bưu thiếp của nhóm hát yodel ở quê tôi. Đó là một trải nghiệm khá kinh ngạc. Những bức ảnh cũ ấy dường như luôn có một lời thỉnh cầu được chú vào, rằng bạn nên kể một câu chuyện đằng sau chúng. Trong Ký ức lạc loài có một bức ảnh nhóm chụp một gia đình Do Thái đông đúc, tất cả đều mặc trang phục của người Bavaria. Một hình ảnh đó cho ta biết nhiều hơn về lịch sử khát vọng của người Do Thái ở Đức hơn cả một chuyên khảo tổng thể.

 

MJ: Tại sao ông lại tiếp tục viết bằng tiếng Đức?

 

WGS: Tôi đã sống ở đất nước này lâu hơn nhiều so với ở Bavaria, nhưng khi đọc bằng tiếng Anh tôi thấy không thoải mái với giọng lơ lớ ngồ ngộ. Không giống như Conrad hay Nabokov, tôi không bị rơi vào hoàn cảnh buộc tôi phải xa rời tiếng mẹ đẻ hoàn toàn. Nhưng có thể lúc ấy sẽ đến khi vốn tiếng Đức của tôi bắt đầu bị thu hẹp. Chuyện này rất nhức nhối, bởi vì ta hẳn có lợi thế nếu có thể tiếp cận với nhiều hơn một ngôn ngữ. Song ta cũng có nhiều rắc rối nữa, bởi vì vào những ngày tồi tệ ta không tin tưởng vào bản thân, kể cả bằng ngôn ngữ thứ nhất hay thứ hai, và vì thế ta thấy mình giống như một thằng ngẫn toàn tập.

Maya Jaggi thực hiện

Vũ Thanh Bình dịch

(Dịch từ bài “Last word”.)

(Ảnh: W. G. Sebald. Photo: © Jerry Bauer. Courtesy of New Directions.)

[1] Sự kiện St Jerome hay còn gọi là St Jerome’s Lecture – Bài giảng của Thánh Jerome, đây là một hoạt động thường niên bắt đầu từ năm 1994 của Trung tâm Dịch thuật Văn học Vương quốc Anh lấy tên theo Thánh Jerome, người đầu tiên dịch bộ kinh Cựu Ước từ tiếng Hebrew sang tiếng Latin và cũng được coi là thánh bảo trợ cho nghề dịch thuật. Sự kiện thường mời các học giả nổi tiếng về trình bày những bài giảng về dịch thuật và văn học. Từ năm 2004 hoạt động này đã được đổi tên thành Sebald Lecture để tưởng nhớ W. G. Sebald.

[2] UEA’s British Centre for Literary Translation, một đơn vị trực thuộc Trường Văn học, Kịch nghệ  và Sáng tác trong Đại học East Anglia, có chức năng hỗ trợ đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Dịch thuật Văn học, do W. G. Sebald sáng lập năm 1989.

[3] Trại tập trung Bergen-Belsen hay còn gọi là Belsen, là nơi Đức Quốc xã giam giữ tù nhân chiến tranh và người Do Thái, sau khi được giải phóng ngày 15/04/1945 quân Anh đã phát hiện ra có khoảng 60.000 người bị bỏ đói và bệnh tật bên trong, cùng 13.000 xác chết phơi bên ngoài. Đây được coi là một trong những biểu tượng nổi bật nhất cho sự tàn độc của Đức Quốc xã. Bộ phim mà Sebald đề cập ở đây có lẽ là Memorandum – phim tài liệu nói tiếng Anh sản xuất năm 1965 và cũng là bộ phim đầu tiên làm về trại Belsen của hai đạo diễn người Canada Donald Brittain và John Spotton. Nếu đúng là phim này thì Sebald đã nhớ nhầm độ tuổi của mình lúc xem phim, khi phim được chiếu thì ít nhất ông cũng đã 21 tuổi, và khi đó ông đang học ở Đại học Fribourg, Thụy Sỹ.

[4] Chương trình Kindertransport, tiếng Đức nghĩa là “children’s transport” – giao vận trẻ em. Đây là nỗ lực giải cứu các trẻ em Do Thái khỏi Phát xít Đức ở các nước Đức, Áo, Tiệp Khắc và Ba Lan, thành phố tự trị Danzig của chính phủ Anh khởi xướng trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra 9 tháng. Từ tháng 12/1938 đến tháng 05/1940, gần 10.000 trẻ em Do Thái đã được cứu thoát, đưa sang Anh và gửi vào các gia đình nhận nuôi, nhà trọ, trường học và trang trại. Phần lớn họ là những thành viên duy nhất trong gia đình còn sống sau nạn diệt chủng người Do Thái. Chính phủ Anh không giới hạn số lượng mục tiêu giải cứu của chương trình, nhưng dự án bị dừng lại bởi Thế chiến 2 diễn ra ác liệt khiến cho việc tổ chức vận chuyển trở nên bất khả thi.

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3