Thời gian đọc: 7 phút

Lúc sinh thời, trong một nỗ lực giải thích thuyết tương đối cho các nhà báo hiếu kỳ, cụ Albert Einstein từng kể câu chuyện sau đây: “Khi anh ngồi bên một cô gái đẹp suốt hai tiếng đồng hồ, anh tưởng mới chỉ có một phút; nhưng nếu ngồi trên bếp lò nóng một phút, anh sẽ tin chắc rằng hai giờ đồng hồ đã trôi qua. Tương đối đấy.”

Mẩu chuyện nhỏ này rõ ràng không thể nào soi sáng hết được sự phức tạp vô biên của không-thời gian liên tục,  sóng hấp dẫn và hố đen, thế nhưng đa số người nghe chuyện sẽ hiểu ngay được tính linh hoạt của thời gian. Thế vậy tại sao, đến giờ này, một thế kỷ sau phát hiện gây chấn động của Einstein, con người ta vẫn tiếp cận thời gian theo phương pháp Newton cứng nhắc như thể thời gian chỉ là những đơn vị được cân đo đong đếm kĩ càng rồi sắp xếp theo thứ tự từ trước đến sau? Nếu các trải nghiệm sống của ta, và kể cả quy luật của vũ trụ này, không hề tuân thủ theo cái quỹ đạo này, vậy tại sao ta cứ nhất nhất phải kể chuyện theo một trật tự?

Các nhà văn tôi thường trở lại tới lui là những người đã dày công suy nghĩ về vấn đề thời gian – Làm sao để dùng thời gian vén màn khai phá thế giới? Mối liên hệ của con người với quá khứ là gì? – và chính họ cũng đã tìm ra được một ngôn ngữ dùng để kể nên những câu chuyện về một thế giới muôn hình vạn trạng nơi mọi chuyện đều kết dính và rối tung vào nhau.

 

1) Virginia Woolf

Cuộc đời không phải là một chuỗi đèn đứng dàn hàng ngang. Nó là một vầng hào quang tỏa sáng, một lớp màng nửa trong suốt bao bọc lấy ta từ điểm khởi đầu của ý thức đến tận cùng.

“Tiểu thuyết Hiện đại”, 1919

Virginia Woolf đã cố gắng bứt phá khỏi những khuôn vàng thước ngọc của văn chương thời Victoria mà nữ sĩ gọi là “thứ công chuyện tự sự kinh khủng của đám hiện thực” bằng cách khám phá thời gian theo sự trải nghiệm của tâm thức, qua những làn sóng đàn hồi biến hóa khôn lường, không ngừng rung động và xô đẩy giữa qua khứ và hiện tại. Trong tiểu thuyết Bà Dalloway, Clarissa Dalloway mở toang cửa sổ trong căn nhà ở London và từ đó quá khứ hừng hực trỗi dậy. “Vì dường như đối với bà, khi những cái bản lề kêu rít lên, như lúc này bà có thể nghe, bà phải mở tung những khung cửa sổ kiểu Pháp và lao người vào bầu không khí thoáng đãng của Bourton.” Một cái bản lề kêu rít, đài phun nước ở Bourton, và cái hôn của Sally; quá khứ luôn xuất đầu lộ diện làm gián đoạn những khoảnh khắc trong thời hiện tại.

Quyển tiểu thuyết kể về một ngày xảy ra trong thành phố London thời hậu Thế Chiến II và dù chiếc đồng hồ Big Ben vẫn cần mẫn điểm từng giờ (như một lời nhắc nhở về thời gian “chính thức”, chiếc đồng hồ vũ trụ kiểu Newton ấy), nó không có lấy một chút ảnh hưởng gì lên cuộc đời của các nhân vật. Cả một đời người hiện lên trong đầu Clarissa trong lúc bà lang thang trên những đường phố London, lướt ra lướt vào quá khứ, tái tạo lại thành phố thành một tâm cảnh dày đặc, “tạo nên nó, dựng nó lên xung quanh người ta, xô đổ nó, rồi mỗi khoảnh khắc lại làm mới nó”. Ý thức trong văn Woolf khiến từng giờ từng phút kéo dài và dãn ra bất tận.

Trong tiểu thuyết Ti Ngn Hi Đăng, phần giữa “Thời Gian Qua” miêu tả căn nhà của gia đình Ramsay trong tình trạng đổ nát, không còn người ở và “Không chỉ những đồ đạc biến đi; mà hầu như không còn lại một thân hình hay tâm trí nào”. Các đồ vật đã dần trở nên vô dụng, cái chảo rỉ sét, một chiếc khăn choàng bỏ quên đu đưa qua lại “một cách lười nhác vô mục đích”. Thời gian có hình dạng gì khi tồn tại bên ngoài ý thức? Phần “Thời Gian Qua” ngắn hơn rất nhiều so với phần trước “Khung Cửa Sổ” mà trong đó sự phức tạp của ý thức con người trong một ngày được miêu tả và khám phá kĩ lưỡng. Mười năm trôi qua gần như tức thì chỉ trong độ dài một vài trang. Bằng cách định hình cấu trúc này, cuốn tiểu thuyết đã cho thấy nếu không có sự giãn cách, biến hoá và tạo hình tâm trí của con người, thời gian không là gì cả.

 

2) Michael Ondaatje

Tôi không tin rằng các câu chuyện được kể từ A đến Z nữa; hoặc, nếu có, chúng đều đã trở nên chán ngắt… những cảm nhận về sự khơi mở, ký ức, và cách ta lộ diện bản thân cho nhau – không có gì thuộc về trình tự thời gian cả.

Michael Ondaatje là một nhà văn nổi tiếng với phong cách tự sự rời rạc. Các cốt truyện trúc trắc đứt đoạn của Coming Through SlaughterBnh nhân Ngưi Anh đã khiến các nhà phê bình phải dừng bút ngẫm nghĩ – họ khăng khăng rằng tác giả đã bày ra cho ta toàn những mảnh vụn vỡ rồi để đó cho người đọc tự ghép lại thành bức tranh cuối cùng. Nhưng nếu sự điên loạn nằm trong việc nhìn nhận thế giới thông qua những mảnh vỡ, như Buddy Bolden trong Coming Through Slaughter, vậy thì chắc rằng hệ quả của cuộc chiến đấy chính là cách mà Bnh nhân Ngưi Anh phác hoạ sự suy sụp tinh thần hậu chiến trong một thế giới vỡ nát, với dòng thời gian đứt đoạn và dồn nén.

Bốn nhân vật sống trong toà dinh thự bỏ hoang ở Ý sau Chiến tranh Thế giới II đều đã trải qua những sang chấn trong chiến tranh, và tựa như những lời thốt lên ú ớ lắp bắp của người đang trong tình trạng sốc, những câu chuyện của họ cũng được kể ra theo từng đợt ký ức ngắn ngủi đột ngột, hay sự minh mẫn đột xuất lạ kỳ nhờ chơi thuốc. Phân tách đoạn rời rạc là một chiến lược miêu tả sang chấn tâm lý rất hiệu quả – mà trong đó sang chấn tâm lý được hiểu theo nghĩa là những phản ứng của con người đối với một hay nhiều sự kiện mà ngay lúc xảy ra ta không tài nào hiểu và cảm nổi hết, dẫn đến những cảm xúc trở lại dưới dạng ác mộng, hồi tưởng, hay những hiện tượng tâm lý lặp đi lặp lại khác. Thế nhưng, tính chất phi-thời gian đặc trưng nhất mà cuốn tiểu thuyết này mang lại, một sự dồn nén thời gian mà trong đó quá khứ và hiện tại cùng hiện diện trên một mặt phẳng, cũng đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc miêu tả những hệ luỵ của chiến tranh.

Ondaatje không hề dựng nên một dòng thời gian trực tiếp thấy rõ được nơi dinh thự hoang tàn này mà chỉ có những hình ảnh các nơi chốn đặt cạnh nhau: thời hiện tại và một quá khứ tiếp tục được tái hiện lại trong ký ức. Bệnh nhân người Anh hiện ra rồi lại vào phòng. Trong một khoảnh khắc Hanna đang nói chuyện với ông dù “hình như ông không chú tâm nghe những lời của nàng. Chỉ nghe suy nghĩ xa vời của ông thôi.” Ngay sau đó ông lại có mặt trong sa mạc Sahara. “Ông đến cái giếng cạn tên là Ain Dua. Ông cởi hết quần áo và ngâm chúng vào giếng, nhúng đầu ông rồi thân hình gầy gò của ông vào làn nước xanh.” Thời hiện tại chỉ xuất hiện thoáng qua còn những ký ức về chiến tranh thì lại quá đỗi nhạy bén, “chân thật” hơn chính là đây và nay, đến nỗi dai dẳng đeo bám và áp đảo hiện tại. Đối với Kip, Hanna, Caravaggio và bệnh nhân người Anh, dòng chảy thời gian đã không còn liên quan hay quan trọng nữa.

 

3) W. G. Sebald

Đối với tôi chuyện ấy như thể mọi khoảnh khắc trong cuộc đời ta đều chiếm chung một không gian, như thể các sự kiện tương lai đã tồn tại sẵn và chỉ đang đợi ta tìm đường đến với chúng, cứ như thể ta đã trót nhận lời và phải có nhiệm vụ đến thăm căn nhà nọ vào một thời điểm nhất định.

Austerlitz, 2001

c Lc Loài của G. Sebald là một nỗ lực tìm kiếm quá khứ thông qua những mảnh ghép ký ức, những giấc mơ và những tấm ảnh cũ, nhưng chính việc lục lại quá khứ cũng phơi bày cách lịch sử, đặc biệt là lịch sử cuộc diệt chủng người Do Thái, đã bị chôn vùi, quên lãng và xem nhẹ. Tác phẩm từa tựa một bài luận-tiểu thuyết hay một quyển tiểu sử cắt dán ban đầu khiến người đọc tưởng là một câu chuyện lịch sử “có thật” với những con người và sự kiện có thật. Người kể chuyện đã chắp vá những mảnh ghép với nhau, qua bốn phần riêng biệt, để kể câu chuyện về cuộc đời bốn người di cư – bác sĩ Henry Selwyn, Paul Bereyter, Ambrose Adelwarth, và Max Ferber.

Nhưng sự chú ý đặc biệt đến các chi tiết tên tuổi ngày tháng và việc chắp ghép các mảnh đời lịch sử với nhau lại đi kèm cảm giác mơ hồ mông lung. Một phần bởi đây là những nhân vật lịch sử (đã chết rồi) (mà ít nhất họ đều là một phần trong câu chuyện của họ) khó có thể nắm bắt được và vì thế chuyện về họ dựa phần nhiều vào lời kể của những bên thứ ba không đáng tin cậy. Ý thức rất bất nhất. Một số chi tiết phai nhoà đi trong trí nhớ nhưng lại có những kỷ niệm khác trồi lên bề mặt. Quyển sách mô phỏng cách bác sĩ Sylwyn bỏ công việc y khoa để cống hiến toàn bộ tâm sức vào “cho những suy tư vừa càng ngày càng khó nắm bắt nhưng lại vừa dần dần thêm rõ ràng và chính xác”.

Có những khoảnh khắc tự sự chấp chới giữa ranh giới lạ lùng và huyền ảo và những giấc mơ kéo dài nhiều trang, đôi lúc hoà quyện vào câu chuyện của các nhân vật lịch sử này. “Lúc khác tôi thật sự thấy họ”, người kể chuyện hồi tưởng về hành trình tìm kiếm tung tích của Cosmo và người chú Ambros đã chết từ lâu:

Họ im lặng, như những người chết thường im lặng khi hiện ra trong giấc mơ của chúng ta, và có vẻ chán nản, thất vọng gì đó. Nói chung, họ quả thật cư xử cứ như hoàn cảnh đã thay đổi của họ, có thể nói thế, là một bí mật gia đình khủng khiếp không được để lộ ra trong bất kỳ tình huống nào. Nếu tôi đến gần, họ sẽ tan biến ngay trước mắt tôi.

Người đọc có lẽ phải mất nhiều lần đọc đi đọc lại mới có thể phân định được giữa mơ với “thực” – bởi những câu từ chuyển tiếp quá đỗi khôn khéo, khiến các thế giới tan hoà vào nhau. Tự sự đem lại cảm giác lạ lùng rằng mỗi sự kiện, bất kể trong hiện tại hay quá khứ, được tưởng tượng nên hay mơ thấy, đều cùng tồn tại trong một trường hiện thực và đều mơ hồ như nhau. Lịch sử và người đã chết tiếp tục đeo bám lấy ta kể cả khi ta đã không còn nắm bắt được nữa.

Aimei Lee dch

 

Bài dịch sử dụng bản dịch Bà Dalloway của Nguyễn Thành Nhân dịch, NXB Tổng hợp Hồ Chí Minh xuất bản; Ti ngn hi đăng do Nguyễn Thành Nhân dịch, Công ty Hà Thế xuất bản; Bnh Nhân Ngưi Anh do Hồ Như dịch, Bách Việt xuất bản; Ký ức lạc loài do Đăng Thư dịch, Phanbook xuất bản.

Tranh: The Alarm Clock của Diego Rivera

Bác gốc mang tên Three Authors Who Understand Time của Sophie Kalkreuth đăng ngày 15 tháng Mười Một, 2016 trong mục Enumerate trên trang The Offing.

 

V tác gi

Sophie Kalkreuth là một tác giả và biên tập viên hiện sinh sống tại New York và tập trung vào các xu hướng toàn cầu trong lĩnh vực kinh doanh và văn hoá, đặc biệt là quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ. Cô thường đưa tin cho các tờ The Peak (Hong Kong), LP (Thượng Hải) và Palace (Singapore). Từ năm 2006 – 2013, Sophie sống tại Trung Quốc và giữ chức Chủ Biên tờ LP Magazine. Các sáng tác văn học và phê bình của cô đã xuất hiện trên các tờ Los Angeles Review of Books và Afterness: Literature from the New Transnational Asia.

 

Chấm sao chút:

Đã có 1 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Website | Các bài viết khác

"Ngươi trong tim nàng rồi sẽ thành "đã từng" trong nhiếp ảnh, có chứng cứ, có ảnh tượng, có thương hận."