Một năm đọc sách: 2020: Văn chương thì phải giống văn chương

Thời gian đọc: 20 phút

Dù biết đây là một bài tổng kết review sách của năm 2020 chứ không phải một bài than nghèo kể khổ của giới reviewer nhưng âu cũng là hết cái năm nên tôi xin tỏ bày với các bạn văn mấy lời. Chả là bữa đọc Đợi Godot phiên bản tiếng Việt mới ấn hành của Nhã Nam, có đoạn nhân vật Vladimir bảo Estragon đáng lẽ mày phải là thi sĩ, Estragon mới hướng về phía bộ quần áo rách như xơ mướp của mình bảo: “tao đã từng là thi sĩ. Như vậy chưa đủ rõ sao?”, chẳng may lúc ấy tôi cũng đang phân vân nghĩ tới nghĩ lui có nên mua chiếc chân váy ombre lóng lánh như dải thiên hà trị giá 533k hay không, hay để 533k đấy đi săn sale Tao Đàn, đột nhiên tôi cũng thấy rưng rưng lạ. Với cái nghèo như thế thì để tôi viết ra được bài này (dù đã năng xin giảm mua khá nhiều trong năm nay), những mong các bạn văn hiểu rằng tôi đã bớt đi một cơ số những chiếc chân váy và những lọ serum làm trắng da se khít lỗ chân lông để dành tiền mua sách nâng cao văn hóa đọc.

Sách vở nước nhà năm nay bảo không có gì hay thì là nói bậy, cũng không đến mức “2020 is cancelled”. Nhưng hình như đúng là cũng ít nhiều khan hiếm nên khi ngồi hồi tưởng lại để chọn ra top nọ top kia thì tôi bới mãi cũng chả được bao nhiêu, và nếu bắt chấm điểm thì chắc cũng chỉ chấmthị trường năm qua 2 sao rưỡi đến 3. Thành ra tầm này sợ nhất không phải có bà cô nào vào hỏi “năm nay có bồ chưa?”, mà sợ nhất gặp bạn văn nào đó hỏi rằng “năm nay đọc được cái gì hay không?”. Vả lại bây giờ thực hành chánh niệm sống cho hiện tại nên không còn kiểu đọc cố sống cố chết mà cuốn nào ngâm độ 50 trang thấy không hứng thú là thank u, next. Đó, nên tưởng 2020 work from home là khoảng thời gian free trial để xem ở nhà vui chơi giết thời gian bằng cách đọc sách có hay hơn mấy thằng trong Đợi Godot giết thời gian bằng cáchăn củ cải với cãi nhau xem treo cổ thế nào, ai ngờ cũng chả hay ho hơn là mấy, khiến cho giấc mộng con của tôi là lấy một tấm chồng khoan dung đức độ sẵn sàng nuôi báo cô mình cho mình ở nhà đọc sách cũng vỡ tan vỡ tành không ít.

Sau một hồi luyên thuyên vô cùng tận như thế, vâng, thì tôi cũng xin được vào đề một vài cuốn sách văn chương mà tôi nghĩ là đáng đọc trong năm qua. Tiêu chí? À thì rất đơn giản, là sách văn chương nên tính văn chương sẽ xếp đầu bảng, những cái gi gỉ gì gi thì sẽ xét sau. Cuối cùng thì tôi nghĩ, một cuốn sách văn chương trước hết nó phải là văn chương cái đã, nó phải đọc lên nghe hay, phải thiết tha với những thứ vô nghĩa và vô ích, và không phải nó mù quáng đâu nhé, ngược lại hoàn toàn, nó nhận thức được rõ sự vô ích và vô nghĩa của mình, cũng như nó nhận thức được rõ ràng “viết là một đam mê bất hợp lí”, nhưng không sao, mặc kệ tất cả, nó vẫn kiên định theo đuổi sự bất hợp lí ấy.

(Danh sách xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt.)

1. 2666 – Roberto Bolaño

Trong tiểu luận “Di sản bị mất giá của Cervantes”, Milan Kundera viết: “Tinh thần tiểu thuyết là tinh thần của sự phức tạp. Mỗi cuốn tiểu thuyết nói với độc giả: Sự vật ở đời phức tạp hơn ta tưởng. Ðó là chân lý vĩnh cửu của tiểu thuyết […].” Chiếu theo cái tinh thần ấy thì xin dành tặng 2666 một tràng vỗ tay hoan hô biz biz.

Tôi buộc phải rào trước rằng, cuốn sách này là một bản thảo không thể phân tích hay bình giải. Không chỉ vì nó đồ sộ, mà vì 2666 quá phức tạp, quá rắc rối, thiếu vắng một trọng tâm nhất định, và bất chấp có một đầu mối liên kết chung xuyên suốt qua các phần, nó không thể ngăn cản việc câu chuyện phun trào theo mọi hướng, không thể khoanh vùng hay giới hạn,và tất cả các tình tiết luôn ở trạng thái ly tâm, văng ra khỏi xương sống ban đầu.

2666 nói về mọi thứ. Mặc dù đó không phải là cách hay nhất để tóm gọn một cuốn tiểu thuyết, nhưng với riêng cuốn sách này, chỉ có thể mô tả như vậy. Những người làm sách không thích điều đó, nên buộc lòng, họ phải tìm ra một cách diễn giải cụ thể và dễ mường tượng hơn, kiểu như, câu chuyện kể về một nhà văn Đức mất tích và những vụ án mạng liên hoàn giết hàng trăm phụ nữ tại thành phố hư cấu Santa Maria – lấy cảm hứng từ loạt tội ác có thật ở vùng biên giới Mỹ và Mexico, nơi vốn là cái ổ của tội ác, nơi mà Orson Welles từ 1958 đã từng lột tả trong bộ phim kinh điển Touch of evil (Cái chạm của quỷ dữ), nơi phủ bóng của lũ tội phạm bạo ác. Nhưng một mô tả như thế cũng chẳng khác nào nói rằng Once upon a time in… Hollywood của Quentin Tarantino nói về cái chết kinh hoàng của nữ diễn viên Sharon Tate mà gia đình Manson điên loạn gây ra. Ta đơn giản là không thể giản lược vụng về và thô sơ theo cách đó.

Và rồi sau khi dẫn ta đi một vòng khắp từ châu Âu đến Nam Mỹ, từ thời Hitler đến hậu 11/9, 2666 kết thúc một cách đột ngột như một bản thảo dở dang. Không một nút thắt nào được gỡ bỏ, không một câu chuyện nào đi đến một chung cuộc nào. Thậm chí không thể nói 2666 có một cái kết mở, nó đơn giản là bị bỏ ngỏ, một vụ án mà tất thảy mọi người cùng đeo mang, tất cả mọi người cùng liên đới, không có một thủ phạm nào cả bởi có vẻ như cả thế giới đó là thủ phạm, thậm chí, tất cả mọi người đã thông đồng để lờ nó đi hoặc để nhúng tay vào tội ác đó.

Tội ác trải rộng và tội ác hồi quy. Ở một đoạn văn, nhân vật nhà văn Archimboldi, một cựu binh Quốc Xã cảm thấy như vũ trụ đang đổ ụp lên người mình. Nhưng sao nữa? Ông vẫn tiếp tục sống. Tận thế luôn mấp mé, nhưng nó chưa bao giờ đến và có lẽ không bao giờ đến, không có dấu hiệu nào rằng rồi nó sẽ có một kết thúc. Điều đáng nguyền rủa nhất là ở đó. Thế giới không bao giờ kết thúc và luôn luôn, nó sống trong năm 2666, bên bờ địa ngục và diệt vong, nhưng sẽ không bao giờ thực sự diệt vong mà chỉ ngày càng tiệm cận, tất cả những gì đáng tởm nhất sẽ vẫn nối dài vĩnh viễn. Không có gì có thể gột rửa nổi thế giới, tội ác vẫn cứ nhân lên và khi quay đầu nhìn quá khứ hay ngước mắt hướng tới tương lai, ta thấy mình bị vây bọc bởi một sự u tối như nhau. Thế giới này không có một đường lui thoát.

*Bonus thêm: Trong 7749 thứ xảy ra trong cuốn tiểu thuyết này thì tôi đặc biệt thích đoạn về ông giáo sư triết học đem một cuốn sách mang tên Kinh thánh hình học treo lên dây phơi, một ý tưởng nghệ thuật ready-made kiểu như Marcel Duchamp làm với cái bồn tiểu của mình, chỉ để xem những lý thuyết sẽ chống chọi ra sao với khí hậu sa mạc khắc nghiệt này. Là như thế, ngay cả những thứ tưởng chừng bất biến và phổ quát như hình học, những vĩ nhâncao ngạo nằm trong tháp ngà như Heidegger, Nietzche, Bergson hay Borges, họ cũng hoen gỉ và nhiễm độc và không kháng cự nổi sự thoái hóa đã nằm trong bản ngã của con người.

(Ảnh trên: Facebook Nhã Nam.)

2. Căn phòng của Giovanni (Giovanni’s room) – James Baldwin

Trướckhi nói về cuốn này thì cho đúng tinh thần Black Lives Matter của 2020, nếu ai chưa xem I am not your Negro thì xem nhé. Xong, giờ quay lại với Căn phòng của Giovanni.

James Baldwin ra đời năm 1924. Tình cờ hay định mệnh, đó cũng là năm phong trào Phục Hưng Harlem chính thức khởi điểm. Năm 13 tuổi, Baldwin có bài báo đầu tiên đăng trên tạp chí trường trung học, với tựa đề: “Harlem, ngày đó và bây giờ”. Harlem, khu phố của người Mỹ gốc Phi, nơi những Langston Hughes, Martin Luther King, Malcolm X, Ralph Ellison, George và Ira Gershwin, Oscar Hammerstein, anh em nhà Marx, Louis Armstrong, Billie Holiday, Fats Waller, Nina Simone đều từng một thời lưu trú, là mối quan tâm suốt đời của James Baldwin.

Sau tiểu thuyết đầu tay Go tell it on the mountain lấy bối cảnh Harlem, độc giả chờ đợi tác phẩm thứ hai của James Baldwin cũng là một tiểu cảnh Harlem nữa, nhưng không, đến Căn phòng của Giovanni, Baldwin thoát ly khỏi Harlem, thậm chí, khỏi nước Mỹ, đẩy nhân vật của ông đến Paris và Cựu lục địa, và nhân vật của ông, lần này, thậm chí còn không phải một người da đen, mà là một người đàn ông da trắng: “Tổ tiên tôi từng chinh phục một lục địa, băng qua những bình nguyên đầy chết chóc, cho tới khi họ đến một đại dương quay lưng lại châu Âu nhìn vào một quá khứ tăm tối hơn” – không phải một chủng tộc Caucasian thượng đẳng và kiêu hãnh, mà là những kẻ chinh phục đã vượt qua địa ngục để chỉ đành đoạt lấy một miền đất buồn.

Giờ đây, David, một người đàn ông Mỹ da trắng quay lại nơi bắt đầu, để, như trong cuốn tiểu luận Một câu hỏi về danh tính mà Baldwin từng viết, “chịu đựng những ống nước tồi tàn của Paris, những nhà tắm công cộng, tuổi đời của Paris, và sự bẩn thỉu – để theo đuổi một điều kỳ cùng nào đó, bí ẩn và đa phần là không thể diễn giải rõ, mà có thể gói gọn lại một cách tùy tiện trong một động từ là học”. Dĩ nhiên, sự học mà ông nhắc đến ở tiểu luận này là làm một sinh viên, còn trong Căn phòng của Giovanni, nhân vật chính đã học về những cặn lắng trong bản ngã của mình, anh thả mình vào một dung môi mới, để những cặn lắng cũ xưa nổi lên – anh bị kéo vào một cuộc tình không thể cưỡng bách với một chàng trai tên Giovanni, hay nói một cách không hoa mỹ, anh “come out” với những khát khao đồng tính.

Khi James Baldwin quyết định di cư sang Paris vào năm 24 tuổi, ông nói không muốn mình được đọc “chỉ như một người da đen; hay, thậm chí, chỉ như một cây bút da đen”. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân khiến Căn phòng của Giovanni là một cuốn sách toàn-tập-trắng. Nhưng chính qua sự phản tư của một người đàn ông da trắng bỗng thấy mình bị dạt ra vùng biên và lâm vào tình thế “đồng tính”, anh ta sẽ chiêm ngưỡng thế giới bị màu đen chiếm lấp ra sao. Màu đen không chỉ là một màu da, mà ở đây, nó hiện diện trong bóng tối, trong những ngày nhập nhoạng Paris, trong một cuộc sống lấp liếm bên dưới bề mặt đời sống thường nhật, trong nỗi âu lo ngột ngạt bị phát giác, trong chính căn hầm mục rữa của tâm hồn anh, nó là tất cả những gì đối lập với ánh sáng lóa mắt của một người đàn ông da trắng dị tính.

Vậy là, sẽ có lúc, ngay cả một người da trắng cũng sẽ sa vào bóng đen, ngay cả một kẻ ở trung tâm cũng sẽ thấy mình đã mất phương hướng và kẹt ở phía ngoại vi. Đen – trắng, đồng tính – dị tính, chúng chỉ là ẩn dụ của những xung đột giữa sự thật về con người và những kỳ vọng không tưởng mà ngoại cảnh áp đặt lên con người. Nhưng để làm gì? Đằng nào thì con người dù đội lốt ra sao, đen hay trắng, cũng không qua mặt được những nỗi đau tham lam đã rình sẵn để ngốn ngấu lấy họ.

Căn Phòng Của Giovanni | Tiki

3. Con chó mùa xuân (Chien de printemps) – Patrick Modiano

Khỏi phải hỏi “lại Modiano à thế có gì mới?” vì vâng lại Modiano và cũng không có gì mới. Đây là kiểu sách bạn đọc cũng được mà không đọc cũng được, bạn có thể đọc duy nhất một cuốn và bình luận về tất cả các cuốn khác như thể đã đọc hết lẩu lâu rồi. Tôi nhận ra Modiano là một cái ông tác giả rất dễ bị hiểu lầm, một nhà văn mà người ta có thể chẳng cần biết gì nhiều về ông nhưng vẫn có thể nói như thể đã biết tất tật về ông, chỉ cần nghe lõm bõm được mất keyword “đi tìm thời gian đã mất”, “nỗi u sầu lãng mạn”, “luyến tiếc quá khứ”, “hồi ức không bao giờ trở lại”.

Tôi cũng đọc được láng máng ở đâu đó một-ai-đó nhận định rằng thứ văn chương của Modiano ít quyết liệt và nhà văn không có cá tính mạnh. Nhân đây tôi cũng xin khẳng định luôn, Modiano không thể thiếu quyết liệt hay thiếu cá tính. Làm gì có ai thiếu quyết liệt và cá tính mà viết mấy chục tiểu thuyết đều như một? Và viết đi viết lại cùng một điều đó trong suốt mấy chục năm qua một cách cần mẫn không ngừng nghỉ? Nếu người ta không có điều gì đó thực sự muốn nói và muốn biểu lộ thì người ta không thể nào quyết liệt thế đâu. Ông viết đi viết lại một cuốn sách như cái cách như Van Gogh vẽ đi vẽ lại hoa hướng dương hay Monet vẽ đi vẽ lại ao hoa súng. Những cuốn sách của ông giống nhau đến nỗi mà đôi khi chúng sẽ lẫn lộn vào nhau trong trí nhớ của bạn. Không thể nhớ ra ai đã ngồi ở quán cafe đó, ai đã biến mất, ai đã loanh quanh trên những đại lộ ngoại vi Paris, bởi tất cả dường như đã ngồi đó, đã loanh quanh, đã biến mất, như tro bụi khi hỏa thiêu không phân biệt nổi của người nào với người nào.

Từng có lần, ông nói thế này về sự trở lại của những “điệp khúc” trong văn chương ông: “Giống như là một nhiếp ảnh gia cố gắng bắt lấy ai đó từ những góc khác nhau và ảnh chụp ra đều không hoàn toàn chuẩn xác.”

Không, Modiano không viết, ông đang chụp ảnh, ông chụp ảnh ra một tiểu thuyết. Chiếc máy ảnh ẩn dụ là vũ khí của ông để đọ sức với thời gian. Đọc Modiano giống như giở một quyển an-bom ảnh, những bức ảnh kết thành một đường dây cốt truyện mơ hồ, nhưng những mắt xích quan trọng nhất lại thiếu, mỗi tình tiết không nối liền mà chỉ là những đoạn cắt rời của thời gian, giữa chúng là khoảng hẫng, và người đọc nhảy cóc qua các khung hình.

Trong tiểu thuyết Con chó mùa xuân, nhân vật kể truyện (hay có lẽ, chính hiện thân của Modiano) kết bạn với một nhiếp ảnh gia. Anh nhận kiểm kê toàn bộ những tấm ảnh mà ông đã chụp, một hành động sắp xếp vô nghĩa như ai đó cố gắng đặt cuộc sống vào vị trí. Anh tin rằng ký ức hoạt động với cơ chế của một tấm ảnh Polaroid; dù ký ức có đang hôn mê, chỉ cần một kỷ vật xuất hiện, là ngay lập tức bừng thức trong tâm trí. Có nhiều cách hiểu về Con chó mùa xuân, một cách hiểu có thể là: đây là một câu chuyện về nghề viết. Ngay đoạn đầu, vị nhiếp ảnh gia và nhân vật tôi đã có cuộc bàn luận về viết. “Người ta viết bằng các từ, còn ông, ông tìm sự im lặng. Một bức ảnh có thể diễn đạt sự im lặng. Nhưng còn các từ thì sao?” Nhân vật tôi hứa sẽ tìm cách tạo ra sự im lặng bằng các từ. Anh đã làm được. Modiano đã làm được, bằng cách chẻ đứt thời gian, lấp đi những phần quan trọng, lấy nét vào một vài điểm ngẫu nhiên. Cũng nhờ đó, ông chống lại được thời gian. Ông né tránh đối mặt với tảng thời gian khổng lồ sập xuống, ông chỉ chiến đấu với từng mảnh khoảnh khắc, cứu lấy những ký ức đơn lẻ.

Nếu chỉ quan sát nhân vật của Modiano như một kẻ lang thang luyến tiếc quá khứ u sầu dịu dàng thì quá dễ rồi. Nhưng nếu chỉ thế thì không cần phải nói ra làm gì vì ai cũng biết như thế. Patrick Modiano kế thừa sở thích làm một flâneur (tạm hiểu là người tản bộ không mục đích) của nhiều nhà văn Pháp. Nhưng cuộc bộ hành của ông không nhằm để tích lũy một “bữa tiệc ngon cho đôi mắt” nói như Balzac, hay nó cũng không diễn ra vì “một mục đích cao quý hơn của một người tản bộ thuần túy, một mục đích lớn hơn là sự vui thích nhất thời với ngoại cảnh. Anh đi tìm một thứ không thể xác định được mà có lẽ chúng ta được phép gọi nó là chủ nghĩa hiện đại”, nói như Baudelaire.

Modiano ở giữa những thứ đó, không chỉ tản bộ thuần túy, nhưng cũng không đi tìm một triết học cuối cùng, có khi nhân vật của ông dừng lại ngắm một con chó, tự hỏi nó đi đâu. Những mẫu nhân vật dấn thân luôn tìm được cái cần tìm, nhưng nhân vật của Modiano càng đi càng không rõ mình đang tìm gì, thậm chí mình có phải là mình không, họ tan rã trước khi cuộc đi chấm dứt. Rất ít nhà văn đương đại nào có thể trống rỗng hóa những cuộc đi (hay chính cuộc đời) như Modiano. Ông làm được điều đó chỉ bằng một đoạn ngắn ngủi thế này trong Con chó mùa xuân: “Hết rồi. Tôi chẳng còn là gì nữa. Lát nữa thôi, hẳn tôi sẽ đi ra khỏi khu vườn này đến một bến tàu điện ngầm, rồi một nhà ga và một bến cảng. Khi các cổng sắt đóng lại, hẳn từ tôi sẽ chỉ còn lại cái áo gió mà tôi mang, cuộn lại thành một nắm, trên băng ghế.”

Con Chó Mùa Xuân | Tiki

4. Đẹp là một nỗi đau (Cantik Itu Luka) – Era Kurniawan

Đưa cuốn này vào danh sách thì thực ra cũng giống như là mấy cô chị ghẻ của Lọ Lem cố cố cố cố gọt luôn cái gót chân để đi vừa giày thủy tinh vậy. Bởi cuốn sách tuy rất hay, nhưng bảo là hay đến độ hay nức hay nở, hay chảy nước mắt thì cũng không tới mức. Thực ra điều kinh ngạc nhất của cuốn sách này là khi viết nó, vị tác giả Indonesia mới chỉ 27 tuổi, và với tất cả sự lạc quan của mình tôi không tưởng tượng được ở Việt Nam hiện nay có ai 27 tuổi viết được một thiên tiểu thuyết công phu và tham vọng và hay từ đầu chí cuối như vậy.

Đẹp là một nỗi đau bắt đầu bằng khúc dạo xứng đáng được xếp trong những câu văn mở đầu ám ảnh và bí ẩn bậc nhất của văn chương đương đại:“Một buổi chiều cuối tuần tháng Ba, Dewi Ayu bước ra khỏi ngôi mộ của bà sau khi đã chết hai mươi mốt năm.” Từng là cô gái điếm đẹp huyền thoại của Halimunda, Dewi Ayu trở về căn nhà nơi bà đã sống và chết, bàng hoàng nhận ra đứa con gái thứ tư thoát thai từ tử cung của bà có một gương mặt gớm ghiếc dị hợm.

Cũng như García Márquez đã trần thuật về thời kỳ thuộc địa và giành độc lập của Colombia từ điểm nhìn đầy hoang đường và truyền kỳ về dòng họ nghiệp chướng Buendía trong Trăm năm cô đơn, Eka Kurniawan phơi bày tấn kịch của đất nước Indonesia bằng cách buộc mọi dòng chảy lịch sử đổ dồn tại giao điểm thứ nhất, thành phố duyên hải tưởng tượng Halimunda với thủy tổ là cuộc hôn phối của nàng công chúa xinh đẹp nhất cùng một con chó đực, và giao điểm thứ hai, nòi giống của cô điếm Dewi Ayu – một nòi giống nảy sinh từ tội lỗi. Và cũng như García Márquez, Kurniawan thổi phồng căng lịch sử bằng một chiếc máy bơm, cùng một lúc phóng đại những sự thật – biến hiện thực thành huyền ảo, cùng một lúc tẩy trần sự thật. Những lãnh tụ, những thủ lĩnh, những kẻ nổi loạn, những cuộc cách mạng, cánh tả và cánh hữu, cuộc đối đầu giữa chính phủ và phe nổi dậy, những cuộc diệt chủng tàn bạo vô đạo, toàn bộ các sự kiện lịch sử bị Kurniawan tẩy bỏ tính “thiêng”. Trong Đẹp là một nỗi đau, lịch sử không xảy ra bởi những khác biệt về ý thức hệ và những chủ nghĩa chỉ là những vỏ ốc tạm bợ mà các nhân vật vô tình tìm được, lịch sử tan nát chỉ bởi một điều: những cái âm đạo đàn bà. Những chế độ đăng quang rồi thoái trào, những anh hùng được tụng ca rồi thành tội nhân bị xử bắn, những cậu trai giết người nhờ nhục dục rồi giác ngộ nhờ nhục dục, lương tri có giá trị hôm nay rồi cũng thành gánh nặng ngày mai, chỉ có nhà thổ của má mì Kalong với những cô điếm lộng lẫy mà kiên cường, ngạo mạn mà khôn ngoan còn lại, vĩnh viễn rạng ngời, vĩnh viễn xa hoa, vĩnh viễn tươi đẹp, là giấc mơ vĩnh hằng của cuộc sống.

Và để kết lại, tôi xin dành một phút quảng cáo cho Eka Kurniawan: ông không chỉ đầy tính sử thi, lộng ngôn như Gabriel García Márquez, ông còn hài hước như Nikolai Gogol, hoành tráng như Hermann Melville, giàu trí tưởng tượng như Salman Rushdie, khéo léo kể những chuyện hấp dẫn một cách vô nghĩa (hay một từ khác gần với “vô nghĩa”: “hư vô”) như Haruki Murakami. Ờ thì bạn có thể nghĩ đoạn quảng cáo này cũng là một đoạn lộng ngôn.

Đẹp Là Một Nỗi Đau | Tiki

5. Faithful and Virtuous Night – Louise Glück

Đây là tập thơ duy nhất, cũng là cuốn sách duy nhất trong danh sách này mà tôi chọn ra dù nó chưa được dịch hay phát hành ở Việt Nam. Tôi đọc nó ban đầu đúng là vì “đu trend”, nhưng việc tôi đặt nó vào đây hoàn toàn không phải vì “đu trend”.

“Thế hệ của tôi, phần lớn những thi sĩ tôi ngưỡng mộ đều thích độ dài. Nói thế ý tôi là họ thích viết những câu dài, những khổ dài, những bài thơ dài, những bài thơ bao gồm một chuỗi mở rộng những sự kiện”, Louise Glück mở đầu một bài tiểu luận mang tên “Sự gãy vỡ, sự gián đoạn, sự im lặng”, xuất bản lần đầu năm 1993 trên tạp chí The American Poetry Review. Bà tự nhận mình thuộc về “một thế hệ nghi ngờ tính trữ tình, sự ngắn gọn, sự lường gạt của thời gian ngưng đọng. Và thiếu kiên nhẫn với cái đẹp”. Glück không phủ nhận sự tham vọng của những người đồng nghiệp, nhưng bà tranh luận về “tham vọng ấy”, và với Glück, “những đoạn giản lược, những điều không nói, những gợi ý, những sự im lặng hùng hồn có chủ đích”, chúng cũng giàu có theo cách của riêng mình.

Tôi không phải người đọc thơ nhiều, nên nếu có gì sai sót, mong được các bạn văn giơ cao đánh khẽ. Nhưng đọc thơ Glück mà cụ thể là tập Faithful and Virtuous Night (tập thơ gần nhất của bà?), có cảm giác rất rõ “sự im lặng hùng hồn có chủ đích” bao trùm: nơi một nghệ sĩ thổi sáo, tự hỏi “Tôi đang ở đâu bây giờ?”, trong một người độc giả đọc xong trang cuối cùng của cuốn sách và tự hỏi những nhân vật ấy đi đâu cả rồi, những con người đã từng quá ư giống như là có thật?; nơi một vị quốc vương được một người đọc chỉ tay tiên đoán rằng những điều vĩ đại đang ở trước mắt ngươi, hoặc ở sau lưng ngươi, nhưng có gì khác chứ, ngay giờ đây ngươi là đứa trẻ nắm tay ta, mọi thứ khác chỉ là giả định và giấc mộng; hoặc đơn giản hơn nữa, nơi cách bà để một ô trống ______ nơi đáng lẽ ra là tên một thành phố – nhưng bà khước từ sự chi tiết hóa và hiện hữu hóa.

Ở Glück, ngay cả sự gặp gỡ, sự đối thoại, sự tương tác cũng không thể hơ tan khối tuyết im lặng đóng băng. Trong một bài mang tên “Utopia”, bà viết:

Khi tàu đỗ lại, người đàn bà nói, con phải lên tàu. Nhưng làm sao con biết, đứa trẻ hỏi, đây đúng là chuyến tàu ấy? Nó sẽ đúng là chuyến tàu ấy, người đàn bà nói, vì đúng lúc rồi. Một chiếc tàu vào ga; đám mây khói xám phun ra từ ống khói. Mình sợ quá, đứa trẻ nghĩ, giữ chặt những bông tulip vàng mà nó sẽ tặng bà mình. Mái tóc nó bện chặt để chống chọi với cuộc hành trình. Rồi, không nói một từ, nó lên tàu, từ đó phát ra một âm thanh kỳ lạ, không phải bằng thứ ngôn ngữ như nó nói, mà là một thứ gì đó giống với một tiếng rên hay một tiếng khóc.

Tôi cho rằng chiến thắng của Nobel năm nay không chỉ là chiến thắng của phái nữ mà còn là chiến thắng của văn chương thuần túy và cái đẹp thuần túy, bởi trong thứ thi ca trữ tình của Glück, văn chương không bị lạm dụng thành một điều gì khác, nó chỉ là nó, trong sự im lặng mênh mông, Glück kiên tâm đợi cái đẹp từ từ hiển lộ, không thúc giục, không gồng gánh, không đào bới, không xới tung tất cả để tìm kiếm một điều gì hay một phán quyết gì.

Và, sự trở về với im lặng chẳng phải cũng là sự trở về với bản chất văn chương ư? Vì sách là một khối im lặng, tất cả mọi tiếng ồn trong đó, ngay cả ở những cuốn sách hoạt náo nhất, cũng đều thuộc về một khối im lặng mà thôi. Thế giới chưa bao giờ ồn ào hơn thế và nó sẽ ngày một trở nên ồn ào hơn, và trong cái thế giới người ta liên tục phải “lên tiếng” vì một chủ nghĩa, một lí tưởng, một niềm tin nào đó, văn chương cũng phải nhập cuộc, nó cũng phải gào thét, phải ầm ĩ, phải xôn xao, phải náo nhiệt, phải sục sôi, để được lắng nghe, để át lấy những tiếng ồn khác. Nhưng Louise Glück và những văn sĩ, thi sĩ như bà chọn cách giảm âm lượng của mình (tờ New Yorker còn gọi bà là “người thì thầm”), đôi khi giảm về im lặng.

Faithful and Virtuous Night: Glück, Louise: 9780374535773: Amazon.com: Books

6. Những cậu bé kẽm (Tsinkovye malchiki) – Svetlana Alexievich

Tôi chọn cuốn này của Svetlana Alexievich không phải vì nó thật sự hay, nó cũng không hay hơn Lời nguyện cầu từ Chernobyl hay Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ, nó vẫn là kiểu kể chuyện quen thuộc của Alexievich, những lời thì thào của những người không mặt được viết lại vừa đau đớn vừa nên thơ, đôi khi có chút mua nước mắt. Nhưng tôi vẫn đưa cuốn sách này vào đây bởi chủ đề về cuộc xâm lược của Liên Bang Xô Viết vào lãnh thổ Afghanistan, một chủ đề mà những độc giả Việt Nam bình thường không có nhiều tài liệu bằng tiếng Việt để tham khảo.

Nhưng như đã nói, danh sách này được lập ra để vinh danh văn chương chứ không phải bất cứ lập trường hay quan điểm chính trị nào hết, nên nếu như Những cậu bé kẽm chỉ đơn thuần là “bản tố cáo chế độ đanh thép” thì chắc chắn tôi đã không cố nhét nó vào làm gì. Thực ra, tôi luôn cảm thấy, Những cậu bé kẽm gọi là tư liệu cũng được, nhưng gọi là một câu chuyện coming-of-age cũng được, một câu chuyện về sự vỡ lẽ của tuổi trưởng thành, theo nghĩa hắc ám nhất: khi ra đi, những người lính Xô Viết là những cậu trai mê khiêu vũ, còn khi trở về từ chiến trường, họ trở thành kẻ sát nhân, cầm cây rìu trong tủ bếp của mẹ để giết người; khi ra đi, họ chẳng sợ gì chỉ sợ lũ nhện thôi, còn khi trở về, nhưng họ đâu trở về nữa.

Svetlana Alexievich đã kể lại tất cả những câu chuyện bằng một thứ ngôn ngữ như bước thẳng ra từ cơn ác mộng, cuốn đi những giấc mơ bồng bột của một chủ nghĩa anh hùng vấy bẩn. Những tiếng nói của các nhân vật được bà sắp xếp và đẽo gọt vừa lộn xộn, vừa nhịp nhàng, vừa vô thức như một lời nói mớ, như một lời kêu cứu từ cõi ký ức hỗn mang họ đã cố gắng dìm xuống đáy nhưng bằng cách nào đó chúng vẫn lộ ra.

Một lý do lớn khiến tôi chọn cuốn này bởi nó cho thấy tính văn chương không bị giới hạn trong thể loại hư cấu, và các cây bút phi hư cấu không hề là những cây bút hạng hai. Vấn đề không phải bạn viết gì, vấn đề bạn viết hay hay dở. Như Alexievich, bà không phải một Beethoven hay Mozart trong văn học, đúng, vai trò của bà không phải một nhà soạn nhạc. Bà có lẽ giống như Claudio Abbado hay Herbert von Karajan – một nhạc trưởng dẫn dắt và điều phối trên sân khấu. Có ba lớp giọng chính trong Những cậu bé kẽm: những người đàn ông ra trận – những người đàn bà bị đẩy ra tiền tuyến – những bà mẹ mất con; ba bè nhạc khi thì thào, khi dữ dội, khi nức nở, khi bất cần, khi nguyền rủa, ngân nga và hiệp đồng và vang vọng lẫn nhau. Mỗi tiếng nói là một nhạc cụ kể một câu chuyện riêng, nhưng nhập lại, chúng cùng hát một bản giao hưởng mang tên Mất mát.

Và một người nhạc trưởng có tạo ra âm thanh nào đâu, một người nhạc trưởng tưởng như chỉ vung vẩy cây đũa cho đẹp mắt, nhưng không có nhạc trưởng, bản nhạc sẽ câm.

Zinky Boys - Những Cậu Bé Kẽm - Svetlana Alexievich | NetaBooks

7. Vận mệnh người lính tốt Švejk trong đại chiến thế giới – Jaroslav Hašek

Michael Palin, cựu thành viên của Monty Python, gánh hài vẫn được coi là The Beatles trong hài kịch Anh, sau khi nghỉ hưu từng làm chuyến chu du thế giới và khi được hỏi những người nào là người hóm nhất thế giới, ông đáp: “Ngài Dalai Lama hết sức vui tính. Ồ, vâng. Ngài ấy chẳng bao giờ ngưng cười được. Nhưng, trên tư cách một quốc gia thì tôi nghĩ dân Séc rất là hóm đấy”.

Dân Séc hóm thật, các nhà văn của họ có thể rất khác nhau nhưng tựu trung đều ít nhiều vui tính. Jan Neruda hài hước một cách vô thưởng vô phạt và bình dân học vụ. Karel Čapek châm biếm sự suy đồi của xã hội người một cách đầy quái quỷ và giàu trí tưởng tượng. Milan Kundera thì khỏi cần dông dài, không ai tâm huyết với tiếng cười như Kundera, nâng nó lên thành một thứ lý thuyết và là cốt lõi của nghệ thuật tiểu thuyết. Và đừng nói Franz Kafka không buồn cười, bất cứ ai khi đọc đến đoạn anh chàng đạc điền K. trong Lâu đài nằm ngủ ở quán trọ và cứ một lúc những người giúp việc lại vào lôi đống đồ đạc mà K. nằm đè lên cứ như thể anh ta cũng chả hơn gì cái ga trải giường hẳn cũng cười rúc rích. Nhưng nói về tiếng cười đặc trưng cho người Séc, chắc khó ai qua được Jaroslav Hašek và anh lính Švejk của ông. Cái sự hài của anh lính Svejk không hề ý nhị tí nào mà nó khiến người ta cười thành tiếng, ôm bụng cười, bò lăn ra mà cười.

“Thế là họ giết mất Ferdinand của chúng ta rồi”, bà giúp việc nói với Švejk, người lính đã giải ngũ những năm trước đây, sau khi bị ban quân y ra tuyên bố kết luận rằng anh là một kẻ ngu độn.

Trên đây là phần mở đầu rất nổi tiếng của cuốn tiểu thuyết Vận mệnh người lính tốt Švejk trong đại chiến thế giới của nhà văn Séc Jaroslav Hašek. Với những người không ngu độn thì Ferdinand chính là vị thái tử của Đế quốc Áo – Hung (sự kiện này sẽ thổi phồng thành Chiến Tranh Thế Giới thứ nhất), nhưng vì Švejk là người ngu độn nên anh ta liền hỏi bà giúp việc của mình rằng cái ông Ferdinand ấy có phải là thằng hầu của ông bán hàng vệ sinh từng uống nhầm lọ dầu gội đầu hay cái thằng Ferdinand chuyên đi hốt phân chó.

Từ đây, cuộc phiêu lưu của Švejk bắt đầu, từ trong đồn cảnh sát đến nhà thương điên, từ bệnh viện đến trên đường, từ lúc đi bán chó cho đến khi làm người hầu của tuyên úy rồi bị sang nhượng cho trung úy Lukáš, đi đến đâu thì tính nực cười cũng diễn ra một cách đồng đẳng với nơi trước đó. Đồn cảnh sát cũng là sân khấu hài kịch hệt như nhà thương điên cho Švejk “diễn trò”.

Tuy nhiên, sự hài hước có thể là tài sản lớn nhất của Švejk thì cũng là vũ khí lớn nhất chống lại sự diễn giải về anh. Vì anh quá buồn cười, nên anh chỉ có thể buồn cười. Cơn cười quặn thắt mà Jaroslav Hašek cù lét vào người đọc khiến ta quên mất thật ra mình đang cười vì cái gì.

Švejk luôn thoát hết kiếp nạn này tới kiếp nạn khác không phải nhờ trí khôn dân gian của anh ta, mà nhờ sự ngu độn. Nhưng chính điều đó khiến ta tự hỏi, vậy thì anh ta có ngu độn thật hay không? Khi bị bắt làm tù binh, người hạ sĩ trông coi Švejk bảo anh có thể phóng uế ra ngoài cửa sổ, nhưng Švejk bảo theo quy định thì tù nhân không được tới gần cửa sổ, rồi nhắc thêm rằng đối với tù binh thì cái gì cũng phải đem đến tận nơi vì tù binh thì đâu được tự lo mọi chuyện! Švejk đảo lộn bản chất của tất cả mọi việc bằng cách tin tưởng sâu sắc vào bản chất đó, anh ta đi vào sơ hở của những định nghĩa và luật lệ, và như một con chuột lách vào những khe hẹp để gặm mòn cả cái thế giới này. Khi bị hỏi “Anh có phải người ngu độn không?”, Švejk đáp dõng dạc là có. Sự biết chắc mình ngu cho phép anh ta nhiều lần trở thành “bình vôi” vô hại. Thú vị ở chỗ người đọc không ai có cảm giác Švejk là nạn nhân của cha tuyên úy suy đồi, của chế độ chính trị suy vong, của quân đội suy kiệt, anh ta bị trói buộc nhưng anh ta lại có vẻ tự do tung tẩy và vô chính phủ hơn bất cứ ai. Ai đó có thể trở thành một nạn nhân khi anh ta tươi tỉnh đón nhận những thứ như thế không? Anh ta là tù nhân hay không phải tù nhân – nếu là tù nhân, tại sao anh ta luôn biết cách len lách qua những “chấn song” để làm người khác tức phát điên, nếu không là tù nhân, tại sao anh ta lại phải răm rắp theo sự sắp đặt của người khác? Švejk cheo leo giữa ngu ngốc và khôn lanh, giữa điên rồ và minh mẫn, giữa tự do và giam cầm, giữa phản nghịch và trung thành, giữa vô hại và nguy hiểm.

Nhiều người nuối tiếc vì Švejk chưa bao giờ trở thành một đề tài được diễn giải kỹ lưỡng như Josef K của Franz Kafka, dù họ cùng rơi vào một mê cung của hệ thống quyền lực lắt léo và không thể nào hiểu được. Nhưng có thật cần thiết không? Một khi cuốn sách này biến thành một bản mật ngữ của triết học hiện sinh hay triết học phi lý hay bất kể học thuyết nào, e rằng người ta sẽ quên mất phải cười vì nó. Nhìn Josef K. mà xem, Kafka có thể đã cười ngã ngửa đoạn anh ta bị bắt mà chả biết mình mắc tội gì, nhưng ngày nay còn bao nhiêu người cười vì chi tiết ấy? Họ đều nghĩ đó là một bi kịch kinh hoàng. Và, theo cái cách Kundera từng nói sẽ rất đáng buồn nếu có ngày Panurge không còn khiến người ta cười nữa, sẽ rất đáng buồn nếu có ngày Švejk khiến ta thôi không cười nữa. Hãy để Švejk là một anh ngốc mua vui như anh ta vẫn là, rồi một lúc nào đó trong đời, ta sẽ nhận ra mình cũng đã “mắc lỡm” như trung úy Lukáš.

Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk Trong Đại Chiến Thế Giới (Tiểu Thuyết) | Tiki

*

Sau khi đã hoàn thành top 7 thì tôi chợt nhớ ra là còn cuốn CHẾT GIỮA MÙA HÈ của Yukio Mishima xứng đáng làm hoa hậu đêm nay. Nhưng vì quá mệt rồi và sắp đến giờ đi tắm nên đành dừng bút tại đây, xin hãy coi nó như một encore. Bên cạnh đó, cũng có những cuốn khác mà tôi chưa đọc xong nên không dám phán bừa, nhưng dù mới đọc được một chút, tôi cũng tin chúng là những cuốn sách văn chương cực kỳ văn chương: đó là Châu Phi nghìn trùng của Irak Dinesen và Bieguni, Những Người Không Ngừng Chuyển Động của Olga Tokarczuk, người đã đạt được thành tích là giành giải Nobel mà (hình như) không bị ai sỉ vả gì.

Còn bây giờ thì để đầu cuối tương ứng, tôi xin khép lại bài viết bằng một câu trong vở Đợi Godot: “Ta chuyển qua chuyện khác đi, được không?”

Hiền Trang

Chấm sao chút:

Đã có 14 người chấm, trung bình 4.6 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Hiền Trang
Các bài viết khác

Chả biết làm gì nên viết.

Bạn nghĩ sao?