Jaroslav Hašek: Một người lãng tử đúng nghĩa

Thời gian đọc: 23 phút

Cecil Parrott (1909-1984) là nhà ngoại giao, dịch giả, nhà văn và học giả người Anh. Từ năm 1934 đến 1939, ông là thầy dạy của vua Peter II xứ Yogoslavia. Ông gia nhập bộ Ngoại giao Anh vào năm 1939. Trong suốt sự nghiệp ngoại giao của mình, ông đã trải qua nhiều vị trí, nắm giữ nhiều cương vị: Tham tán Chịnh trị của phái đoàn Vương quốc Anh tại Liên Hợp Quốc, Đại sứ Anh tại Nga, Giám đốc trung tâm Nghiên cứu và Lưu trữ, Bộ Ngoại giao Anh, và cuối cùng, từ năm 1960 đến 1966, là Đại sứ Vương quốc Anh tại Cộng hòa Séc. Sau khi nghỉ công việc ngoại giao, Cecil Parrott trở thành giáo sư ngành ngôn ngữ và văn hóa Nga, sau đó là ngôn ngữ và văn hóa Đông Nam Âu tại Đại học Lancaster. Ông là người đầu tiên dịch đầy đủ sang tiếng Anh tác phẩm Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới (The Good Soldier Svejk: and His Fortunes in the World War) hồi năm 1973. Bản dịch của ông nằm trong tủ Penguin Classics và vẫn luôn được coi là bản tiếng Anh xuất sắc nhất cho đến thời điểm này. Ông cũng dịch một tập truyện ngắn của Jaroslav Hašek và viết một cuốn sách nghiên cứu về các truyện ngắn của tác giả này. Ngoài ra, ông còn viết một cuốn tiểu sử về Hašek khá nổi tiếng, tên là, The Bad Bohemian: A Life of Jaroslav Hasek, Creator of the Good Soldier Svejk. Bài dịch sau đây là lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Anh The Good Soldier Svejk: and His Fortunes in the World War do chính Cecil Parrott viết. Tên bài do người dịch đặt.

Vương Minh Thu dịch và giới thiệu

LỜI GIỚI THIỆU

Jaroslav Hašek, tác giả Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới là một người lãng tử đúng nghĩa và một người Séc lạ lùng. Là con trai của một ông giáo nghèo khó qua đời vì nghiện rượu, ông mồ côi ở tuổi 13. Thiếu vòng tay chăm nom của cha mẹ, ông nhanh chóng hình thành phong cách cùng thói quen của một kẻ phiêu dạt.

Kẻ phiêu dạt bẩm sinh này chào đời ngày 30 tháng Tư năm 1883 tại Prague trong một ngôi nhà trên một con phố có tên gọi đầy đủ là Školská, hoặc “Phố Trường”. Là một đứa trẻ chán ngán chuyện học hành, và vì cảnh sống chật vật sau cái chết của cha, ông nhận được một công việc trong cửa hàng đồ vệ sinh và mỹ phẩm của ông Kokoška. Quãng đời ngắn ngủi này của ông được thể hiện trong không chỉ tác phẩm Vận mệnh người lính tốt Švejk mà còn trong tập truyện ngắn Từ một tiệm đồ vệ sinh và mỹ phẩm cũ. Như vậy, ngay từ thời niên thiếu, Hašek đã bắt đầu tích lũy tư liệu cho cuộc đời viết văn sau này.

Năm 1899, 16 tuổi, ông được nhận vào trường trung cấp thương mại Séc vừa mới thành lập. Ở đây, lần đầu tiên ông chính thức tiếp nhận một chút việc học hành và đã cư xử rất đúng mực, đáng tin cậy.  Nhưng từ đây ông cũng bắt đầu hình thành một phong cách rồi sau này sẽ là những mối bận tâm chính trong cuộc đời mình: viết lách và ngao du. Một tờ báo tại Prague, Báo Dân tộc (Národní listy), đã cho đăng ẩn danh truyện ngắn đầu tiên của ông khi tác giả của nó đang rong chơi ở Moravia, Slovakia, Hungary và Galicia. Ông khởi hành mà không có một xu nào trong túi và tự kiếm tiền bằng việc xin ăn, đi cùng những người lang thang và kẻ lêu lổng, nhiễm khá nhiều thói xấu từ họ.

Thành tích tốt tại trường trung cấp thương mại đã cho Hašek một chỗ trong ngân hàng Slavia năm 1902, nhưng ông vứt bỏ công việc này và dạt đến Slovakia. Vài tuần sau, ông trở về và được người ta tốt bụng nhận lại, nhưng chỉ được một tháng ông lại nhanh chóng cuốn vào một cuộc rong ruổi khác mà ông tự biện hộ là đã xin phép trước. Từ đó, ông cố gắng sống bằng việc viết lách nhưng trong khoảng thời gian tám năm từ 1900 đến 1908, ông chỉ có 185 feuilleton ngắn được đăng báo, một con số không đủ để ông nuôi sống bản thân mình một cách tử tế.

Không chỉ là một kẻ phiêu dạt đúng nghĩa, Hašek còn bẩm sinh là người thích gây rối và chọc phá. Năm 1897, ngay khi còn đi học, ông đã tham gia vào các cuộc nổi loạn chống Đức tại Prague, vi phạm các quy định thiết quân luật, phá hủy các biểu tượng của hoàng gia Áo-Hung, đập vỡ cửa sổ các cơ quan chính phủ và hào hứng góp một tay trong một vụ phóng hỏa đốt sân nhà của một người Đức sống ở Prague. Năm 1906, ông chính thức hóa xu hướng nổi loạn và khác người này của mình bằng việc tham gia vào phong trào vô chính phủ, và như lẽ đương nhiên, dẫn tới thêm nhiều xung đột với cảnh sát cùng những lần bị bắt giữ và tạm giam. Nhưng trong cùng năm đó, ông gặp được một nguồn ảnh hưởng mới mẻ và đầy bất ngờ: Jarmila Mayerová, con gái của một thợ trang trí trần nhà ở Prague, và ông yêu bà sâu đậm. Tuy nhiên, bao rắc rối đang chờ đợi ông bởi lối sống lãng du và xu hướng cấp tiến của ông khó mà giành được thiện cảm từ bố mẹ Jarmila, một cặp vợ chồng trung lưu tử tế, chuẩn mực.

Năm 1907, các hoạt động vô chính phủ của ông ngày càng nhiều. Ông trở thành biên tập viên cho tờ báo Komuna và đi diễn giảng trước các thợ mỏ và thợ dệt khắp các tỉnh thành. Chỉ điểm của cảnh sát Áo cho rằng ông là thành phần đặc biệt nguy hiểm và các động tĩnh của ông bị theo dõi sát sao. Trong một cuộc biểu tình, ông đã bị bắt vì tội tấn công một viên chức cảnh sát và bị tuyên án một tháng tù. Từ nhà giam, ông gửi những bài thơ tình cho Jarmila, khiến bố của bà càng cố ngăn cấm không để hai người gặp nhau nữa và bảo bà nói với Hašek rằng nếu ông còn bất cứ liên can nào đến bất cứ phong trào vô chính phủ nào thì hai người đừng bao giờ mong nhìn thấy nhau lần nữa, chứ đừng nói đến chuyện kết hôn. Hašek hứa sẽ chấm dứt tư tưởng vô chính phủ của mình nhưng vẫn tiếp tục kiểu ăn mặc lôi thôi. Việc này khiến ông bố vợ tương lai của ông phải tuyên bố chắc nịch rằng nếu ông thực sự nghiêm túc nghĩ đến chuyện cầm tay Jarmila đi hết cuộc đời, ít nhất ông phải ăn mặc cho tử tế và có một công việc ổn định. Một lần nữa, Hašek hứa sẽ làm theo. Các cuộc đụng độ với cảnh sát ít dần. Năm sau đó ông chỉ bị triệu tập hai lần, một lần vì cố xé bỏ lá cờ trên quảng trường Wenceslas và một lần vì gây rối trật tự công cộng. Nhưng điều này đã vượt quá sức chịu đựng và bao dung của bố mẹ Jarmila, họ đưa con gái rời khỏi Prague. Người bạn trai không được chấp nhận nhưng hết sức kiên nhẫn của cô đuổi theo cô tới tận miền quê và khi không có tiền để mua vé tàu hỏa quay lại Prague, ông đã đi bộ hết quãng đường 60 dặm.

Năm 1909, dường như Hašek đã có một nỗ lực kinh ngạc để chứng minh cho bố mẹ của Jarmila thấy rằng ông có thể nuôi sống bản thân và con gái họ. Trong năm này, ông đã viết 64 truyện ngắn. Hầu hết các truyện ngắn này đều được xuất bản trên tờ Châm biếm (Karikatury) do họa sĩ Josef Lada chủ biên, cũng chính là người minh họa cho ấn bản Vận mệnh người lính tốt Švejk này. Sau đó, ông tiếp nối công việc của một người bạn, trở thành biên tập viên cho một tờ báo mang tên Thế giới động vật, nhưng sớm bị sa thải vì viết các bài báo về những loài vật không hề tồn tại mà do chính ông tưởng tượng ra – đây cũng chính là điều nhân vật Marek đã làm trong cuốn sách này.

Các công việc chuẩn bị cho đám cưới đã bắt đầu được tiến hành và bố mẹ Jarmila quyết định rằng đám cưới phải được tổ chức tại nhà thờ. Vì chuyện này, Hašek đã đồng ý quay lại với đạo Cơ đốc mà ông đã từ bỏ khoảng ba năm trước đó. Cuối cùng, đám cưới cũng diễn ra vào ngày 23 tháng Năm năm 1910. Hašek giờ đây đã có được Jarmila của đời mình nhưng cuộc hôn nhân với bà khiến ông không thể thoát được những vòng tròn luẩn quẩn của cuộc đời và làm ông khó mà thoải mái. Tuy nhiên, năm 1910 lại là một năm cực kỳ thành công cho công việc viết văn của ông khi ông đã viết và xuất bản được 75 truyện ngắn.

Năm 1911, ông đăng lên tờ Châm biếm truyện đầu tiên trong chuỗi truyện ngắn về Vận mệnh người lính tốt Švejk. Chuỗi truyện ngắn bao gồm các câu chuyện về người lính này vẫn chưa phát triển thành một nhân vật nổi tiếng như trong cuốn tiểu thuyết các bạn đang cầm trên tay nhưng đã mang rất nhiều điểm tương đồng đặc trưng. Một năm sau đó, các truyện ngắn này được đưa vào một tuyển tập dưới cái tên Người lính tốt Švejk và các truyện kỳ lạ khác, dù các câu chuyện về Švejk chỉ chiếm 29 trang. Trong thời gian này, Hašek cũng thể hiện rõ sự bất lực khi không thể sống một cuộc đời bình thường hay đáp ứng những chuẩn mực mà Jarmila và bố mẹ bà mong đợi ở ông. Ông còn bày vài trò chơi khăm nho nhỏ dành cho những độc giả của tờ Thế giới động vật. Ông thậm chí còn diễn trò này ở một sân khấu lớn hơn: một hôm ông giả vờ nhảy cầu tự tử trên cầu Charles, đúng nơi vị thánh huyền thoại St John xứ Nepomuk trầm mình. Cảnh sát được gọi tới và ông được đưa vào một nhà thương điên. Ở đây ông có thể thu thập tư liệu cho những đoạn văn mô tả những trải nghiệm của Švejk giữa những người điên trong cuốn sách này. Sau đó, Hašek đưa những hình dung này vào tưởng tượng của mình và thành lập một thứ của riêng mình gọi là Viện Khuyển học (một cái tên khoa trương ông nghĩ ra để gọi cửa tiệm của người mê nuôi chó). Ông được Jarmila hỗ trợ việc kinh doanh và một lần nữa, những trải nghiệm trong công việc này được ông đưa vào không chỉ những trang viết của cuốn sách này mà còn các tác phẩm khác của ông nữa. Khoảng một hai năm sau đó, ông cho xuất bản một bài báo mang tên Viện Khuyển học trên tờ báo được ưa chuộng tại Prague lúc đó Světozor, kèm hình minh họa. Ông giải thích mình đã tìm thấy từ “khuyển học” trong bách khoa toàn thư như thế nào và cái tên Viện Khuyển học đã bật lên trong tâm trí khi ông đi ngang qua Viện Nông nghiệp. “Giờ ít nhất tôi cũng là chủ của một cái viện,” ông viết.

Trò vui tiếp theo của ông là thành lập một đảng chính trị gọi là “Đảng Diễn tiến ôn hòa và trung lập trong khuôn khổ pháp luật”. Đây là thời điểm diễn ra các cuộc bầu cử ở nghị viện Áo-Hung, và ông đứng ra ứng cử, công khai chỉ trích hoàng gia, các thể chế của nó cùng hệ thống xã hội và chính trị. Tất nhiên, đây chỉ là một trò vui khác mà ông bày ra để thỏa mãn tính thích phô trương bẩm sinh, và một phần cũng là để giúp đỡ tài chính cho quán rượu nơi các cuộc mít tinh được tổ chức.

Năm 1912, Jarmila sinh cho ông một người con trai, Richard, nhưng cuộc hôn nhân vẫn không hề hạnh phúc và nhanh chóng tan vỡ. Hašek đánh mất một công việc đầy hứa hẹn tại một tờ báo hàng đầu của Prague sau khi công khai chỉ trích những người lãnh đạo đảng mà tờ báo này trực thuộc. Jarmila bỏ ông và quay về sống với bố mẹ, còn Hašek trở về với lối sống ngao du trước đây.  Ông tiếp tục viết văn rất sung sức và đã có thể khai thác những trải nghiệm trong đời sống hôn nhân của chính mình. Sự tan vỡ với Jarmila khiến ông gần như hoàn toàn cách biệt với thế giới, và từ đó ông sống trong một thế giới “ngầm”. Ông không ghi danh ở bất kỳ đâu và cảnh sát chỉ biết tìm ông trong tuyệt vọng.

Khi Thế chiến I nổ ra, ông đang sống nhờ với nhà minh họa Lada, bữa đực bữa cái. Lada kể lại rằng Hašek đã viết rất nhiều truyện ngắn và nấu rất nhiều món ăn ngon khi ở cùng mình. Thực ra, tài năng nấu nướng của Hašek nổi tiếng không kém gì tài năng viết văn, và những chi tiết ẩm thực trong Vận mệnh người lính tốt Švejk cũng xứng đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc.

Đây cũng là thời gian Hašek thực hiện trò chơi khăm có lẽ là liều lĩnh nhất của ông. Ông đã xây dựng quanh mình biết bao huyền thoại cũng như thần tích. Và sau đây là một phiên bản của câu chuyện. Ông quyết định sẽ đánh lừa chính quyền một phen bằng cách thuê một phòng ở U Valšů, nơi khét tiếng nửa là khách sạn nửa là nhà thổ và ông xưng mình là một người Nga. Cái tên ông viết trong sổ khách ghé thăm của khách sạn nghe khá giống một cái tên Nga nhưng khi đọc ngược lại trong tiếng Séc, nó có nghĩa là “Hôn đít tao này.” Khi được hỏi mình đang làm gì ở Prague, ông viết rằng mình đang điều tra các hoạt động của một sĩ quan tham mưu người Áo. Khi đó, cuộc chiến đang ở giai đoạn nước sôi lửa bỏng nhất, cảnh sát ngay lập tức được báo động và khách sạn đó nhanh chóng bị bao vây. Họ nghĩ rằng mình đã tóm được một tên điệp viên quan trọng, và sau đó vừa thất vọng vừa xấu hổ khi nhận ra rằng anh ta không ai khác chính là tên Hašek nổi danh chuyên gây rối. Khi được hỏi tại sao lại làm thế, Hašek trả lời bằng tất cả sự ngây thơ rằng ông chỉ muốn đảm bảo rằng cảnh sát Áo đang hoạt động hiệu quả. Hašek nhận một án phạt nhẹ nhàng chỉ với năm ngày tạm giam.

Năm 1915, ông được gọi nhập ngũ và điều vào Trung đoàn Bộ binh 91 ở České Budějovice, một trung đoàn rất giống với trung đoàn của nhân vật Švejk. Giống như nhân vật Marek trong Vận mệnh người lính tốt Švejk, ông được nhận làm lính tình nguyện thời hạn một năm nhưng sau đó đánh mất các quyền lợi của bậc này. Trong trường hợp của ông, nguyên do bị tước quyền lợi là bởi sau đó người ta mới biết rằng ông đã vào sổ đen của cảnh sát quá nhiều vì làm một phần tử vô chính phủ. Từ Nam Bohemia, Trung đoàn 91 nhanh chóng tới Királyhida, Hungary và từ đây ra tới mặt trận.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ở trung đoàn bộ binh, Hašek đã quan sát kỹ lưỡng các sĩ quan, hạ sĩ quan và tất cả những ai ông tiếp xúc, đặc biệt là vị chỉ huy tiểu đoàn của ông, tiểu đoàn trưởng Đại úy Ságner, chỉ huy đại đội – đại đội trưởng Trung úy Lukas, trung úy dự bị Mechálek, và cuối cùng là người lính cần vụ của trung úy Lukas, một binh nhì tên là Strašlipka. Tên gọi của tất cả những người này, những người sau này xuất hiện dưới những cái tên giống hoặc khác trong cuốn Vận mệnh người lính tốt Švejk, đều có thể được tìm thấy trong hồ sơ của Trung đoàn 91. Hašek vô cùng gắn bó với Trung úy Lukas. Trên thực tế, Hašek không phải lính cần vụ của ông nhưng vâng lệnh ông, rất ngưỡng mộ ông và còn viết rất nhiều thơ gửi ông. Vị trung úy này, sau cuộc chiến, đã nghỉ hưu và sống tại Cộng hòa Séc, vẫn giữ những bài thơ đó rất lâu sau khi Hašek qua đời. Nhưng sau khi chính ông qua đời, chúng đã biến mất không lời giải thích.

Hašek cũng thường xuyên tiếp xúc với một sĩ quan hậu cần, Trung sĩ Vaněk, người ông trợ giúp chuyện sổ sách kế toán và dùng chung phòng làm việc. Trung úy dự bị Mechálek là hình mẫu cho nhân vật nổi tiếng Thiếu úy Dub. Trong các hồ sơ cũng có đề cập đến một hạ sĩ quan tên Biegler và một Thiếu tá tên Wenzel nhưng không có thông tin nào về ai tên Josef Švejk hay về một anh lính nghĩa vụ một năm tên Marek. Có vẻ Hašek đã lấy cái tên Josef Švejk này từ một nghị sĩ đáng kính. Ta có thể tạm cho rằng, với hai nhân vật Švejk và Marek, Hašek lấy cảm hứng từ chính trải nghiệm của bản thân, trừ Strašlipka, một người lính cần vụ có thật, có vẻ cũng là hình mẫu một phần cho nhân vật Švejk. Các bức ảnh của những thành viên trong trung đoàn vẫn còn được lưu giữ và họ không có chút gì giống với những minh họa mà Lada đã vẽ và đưa vào trong tiểu thuyết này. Bức ảnh của Strašlipka thì gần giống với tưởng tượng của độc giả về Švejk hơn là những gương mặt biếm họa độc đáo của Lada. Chính Hašek cũng chưa từng nhìn thấy bất kỳ minh họa nào trong cuốn sách này nhưng tới nay chúng đã trở thành một phần không thể tách rời khỏi cuốn sách.

Quãng đường dài phải đi bộ và đi bằng cả tàu hỏa từ Királyhida tới mặt trận ở Galicia đã cho ông tư liệu để viết về những hành trình được miêu tả trong cuốn sách. Nhưng thời gian ông ở mặt trận không dài. Ông bị bắt làm tù binh vào ngày 23 tháng Chín năm 1915, sau khi bị bỏ lại trong một căn hầm trú ẩn vì một cuộc đột kích của quân Nga.  Dù trung úy Lukas cố gắng thuyết phục riêng ông rút lui cùng những người khác, ông không chấp nhận và tự nộp mình cho quân Nga.

Điều kiện trong các trại tù binh của Nga khi đó vô cùng kinh khủng, đặc biệt là với người Czech. Người Nga coi những người anh em Slav này là nhóm thấp kém nhất và nghĩ họ hết lòng tận tụy với mẫu quốc Nga đến mức tự hào chịu đựng những điều khủng khiếp nhất và gánh vác những công việc nặng nhọc nhất. Ban đầu Hašek được đưa tới một trại gần Kiev, và sau đó chuyển tới một trại khác ở Totskoye, gần điểm cực nam của dãy núi Ural. Ở đây ông may mắn thoát được những khắc nghiệt của trại tù nhờ công việc trong phòng làm việc vô cùng thoải mái của các chỉ huy trại. Giống như hầu hết các tù nhân khác, ông cũng bị mắc sốt phát ban nhưng cơn bệnh không nặng.

Một ngày, ông được tin rằng đơn vị quân tình nguyện sắp được thành lập sẽ lấy quân số từ những người Séc và Slovakia đang ở tại Nga. Đây sẽ là đội quân nòng cốt của quân đoàn lê dương Séc trong tương lai và ông ngay lập tức nộp đơn xin phụng sự. Ông được nhận và ngay lập tức được làm công tác tuyển quân của quân đoàn Séc tại Nga. Tài năng văn chương giúp ông đảm đương các công việc báo chí và tuyên truyền, và lẽ đương nhiên ông sẽ được tuyển dụng vì tài năng này.  Trong thời gian rảnh rỗi, ông viết cho một tờ báo khác,  Čechoslovan, được cộng đồng người Séc tại Kiev phát hành, và cũng chính tại đây ông bắt đầu viết chuỗi truyện ngắn thứ hai về Švejk với tiêu đề Người lính tốt Švejk bị bắt làm tù binh. Chuỗi truyện này được xuất bản thành sách tại Kiev vào năm 1917.

Nhưng ta khó mà mong đợi Hašek sẽ trở thành một nhân viên mẫn cán và đáng tin ở quân đoàn. Ông thường xuyên khiến họ thấy xấu hổ bằng những bài viết tự do của mình. Ông công khai chế giễu lãnh đạo trong một bài báo mang tên “Câu lạc bộ những chiếc dây đèn” được đăng trên tờ Čechoslovan, và vì thế, bị kỷ luật. Hašek không chỉ là người cuồng nhiệt thân Séc ghét Áo mà còn vô cùng say mê Nga. Ông đón nhận tin tân Hoàng đế Áo lên ngôi vào năm 1916 với câu: “Chúng ta khơi dậy phong trào cách mạng là để lật đổ triều đại Hapsburg và đưa lên ngai vàng của Séc một thành viên trong dòng tộc Romanov vĩ đại.” Thậm chí sau Cách mạng tháng Hai ở Nga, Hašek vẫn duy trì quan điểm ủng hộ hoàng gia và hay chỉ trích những người boshevik. Nhưng sau Cách mạng tháng Mười, quan điểm của ông trở nên cực đoan hơn. Ông mạnh mẽ phản đối kế hoạch đưa quân lê dương rời Nga để đến Mặt trận phía Tây, tin rằng họ nên ở lại trên đất Nga và chiến đấu với những người Đức ở đó. Khi quân lê dương rời Kiev để vào sâu trong lãnh thổ Nga, chuẩn bị cho cuộc chuyển quân tới Mặt trận phía Tây sắp tới, Hašek đã không đi cùng. Cuối tháng Hai năm 1918, ông tới Moscow để ra nhập Hồng quân.  Một tháng sau đó ông trở thành thành viên của đảng Bolshevik. Hašek không còn cần phải băn khoăn cho quân lê dương có chiến đấu với người Đức trên lãnh thổ Nga nữa không, vì vào ngày 3 tháng Ba, những người bolshevik đã ký một hiệp ước hòa bình [Hòa ước Brest-Litovsk] với các quốc gia phe Trung tâm. Quân đoàn lê dương gọi ông là kẻ phản bội và ra lệnh bắt giữ. Sau đó, Hašek được điều tới thị trấn Samara để làm việc cho phe Bolshevik nhưng sau khi thị trấn này rơi vào tay quân lê dương, ông nhanh chóng lẩn vào các tỉnh vùng Trung Á của Nga, giả trang làm một kẻ thực dân người Đức. Khi Hồng quân đã kiểm soát được Liên Xô và quân lê dương rút dần, ông bắt đầu xây dựng sự nghiệp trong tổ chức Đảng Boshevik Nga, trên thực tế là trở thành một nhân viên mẫn cán. Tháng Mười hai năm 1918, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch thành phố Bugulma. Từ một Hồng quân người Séc trở thành một Chính ủy Xô viết tên là Gashek (bảng chữ cái của người Nga không có chữ h, nên họ đã viết và đọc tên ông như vậy). Từ đây, thị trấn nhỏ này sẽ sống mãi trong những câu chuyện tuyệt vời về cuộc sống Xô viết, được tác giả cho xuất bản sau khi trở lại Prague. Năm 1919, ông được bổ nhiệm làm Thư ký Ủy ban những người cộng sản hải ngoại của Ufa, Nga; trong cùng năm đó, Bí thư chi bộ phòng in ấn của tạp chí Mũi tên Đỏ; và một năm sau đó, Chủ nhiệm văn phòng Đối ngoại Ban Chính trị Quân đoàn 5. Còn có thông tin rằng ông đã hoàn thành một khóa học tại trường Đảng Cộng sản Xô viết. Nhưng điều đáng chú ý hơn là sự thật rằng ông đã cai rượu, sống một cuộc đời quy củ và tỉnh táo suốt ba mươi tháng trời.

Dường như không có khả năng nào để Hašek – một kẻ thích phiêu dạt và một người vô chính phủ trong quá khứ – lại có thể thích nghi với những hà khắc của hệ thống Xô viết, dù trong thời gian ngắn hay dài, nhưng may thay ông lại có những lựa chọn khác. Khi một phái đoàn ngoại giao của Đảng Dân chủ xã hội Séc tới thăm và mời ông trở lại giúp đất nước, ông đã nhanh chóng đồng ý. Ngày 19 tháng Mười hai năm 1920, ông bất ngờ xuất hiện tại Séc và bắt đầu viết bài cho tờ Quyền lợi đỏ (Rudé Právo), một cơ quan thuộc phe thiên tả của Đảng Dân chủ xã hội. Ông không thể nối lại tình xưa với Jarmila, bởi đi cùng ông là một người vợ Nga. Một vài người nói rằng bà ấy là quý tộc, họ hàng của hoàng thân Lvov, nhưng có thể đây chỉ là một trò đùa khác của Hašek. Tuy nhiên, ông rất sốt sắng liên lạc với Jarmila và nhờ vả bà giúp mình tìm một công việc ổn định. Nhưng đây không phải là chuyện đơn giản. Trong chế độ cộng hòa mới, Hašek không được đánh giá cao cả về tinh thần quốc gia, thái độ chính trị lẫn phẩm cách xã hội. Ông bị cộp mác kẻ phản bội, một người Bolshevik, và cuối cùng là một kẻ hai vợ. Không có được một công việc ổn định, ông trở về với cuộc sống say xỉn và bấp bênh như những năm trước khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên, ông phải nuôi sống bản thân và người vợ mới. Điều này khiến ông phải lần đầu tiên bắt tay vào viết một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh. Đầu năm 1921, ông bắt đầu viết Vận mệnh người lính tốt Švejk và vào mùa hè năm đó, ông chuyển đến Lipnice, Sázava, nơi cách Prague vài trăm dặm về phía đông và giữa khung cảnh tươi đẹp của nó, ông hy vọng mình có thể tập trung vào việc viết mà ít bị làm phiền nhất. Cuốn tiểu thuyết kéo dài bốn phần và không nhà xuất bản nào thiết tha tiếp nhận nó. Kết quả là Hašek phải tự xuất bản tập đầu tiên và tự mình, cùng một người bạn tên Franta Sauer, bán sách. Nhưng sau thành công của tập 1, ông đã tìm được một nhà xuất bản sẵn lòng đón nhận các tập còn lại. Dù tập 1 của bộ tiểu thuyết không đem lại cho Hašek nhiều tiền lắm, ông vẫn kiếm đủ để mua một căn nhà ở Lipnice, nơi ông có thể bắt đầu đọc cho người khác ghi lại các tập tiếp theo.

Nhưng cuộc đời mới đầy lạ lùng đến sau quãng đời vất vả tại Nga đã bắt ông trả giá bằng mạng sống của mình. Sau ba mươi tháng sống tiết chế và điều độ, cơ thể của ông khó mà chịu đựng được việc trở lại sự tùy hứng và vô độ của tuổi trẻ như xưa. Ông ốm nặng và qua đời vào ngày 3 tháng Một năm 1923. Đám tang ông chỉ có cậu con trai Richard mười một tuổi cùng vài người bạn. Tập thứ 4 của bộ tiểu thuyết vẫn còn dang dở. Karel Vaněk, một người bạn của ông đã hoàn thiện nó nhưng phần kết, dù được Lada minh họa, vẫn bị cắt đi khỏi các phiên bản gần đây vì nó không chỉ mạo dạnh mà còn được cho là kém hơn hẳn. Nó cũng không có trong phiên bản này.

 

Vận mệnh người lính tốt Švejk đạt được thành công lớn ngay từ đầu, nó vẫn không được giới phê bình nhìn nhận nghiêm túc trong suốt nhiều năm. Thực ra, những cuốn sách về Thế chiến I đều không được chú ý đúng mức cho tới quãng mười năm sau khi cuộc chiến kết thúc. Những năm ngay sau chiến tranh, người ta vẫn đang quay cuồng trong những cơn cảm xúc mà cuộc chiến đem tới. Nó phải hào hùng và vĩ đại, dù bạn nhìn nó từ phe nào. Chỉ sau một độ giãn thời gian nhất định con người mới có thể giải phóng bản thân khỏi những ám ảnh và nhìn nhận nó dưới con mắt phê bình khách quan. Và đối với người Séc, việc này cực kỳ khó. Dù họ có bị buộc phải chiến đấu ở phía sai lầm, họ vẫn làm đúng phần việc của mình và không phải là không tự hào về nó. Trong khi đó, một số người khác sau đó lại rời bỏ đến nước Nga và giúp thành lập Quân đoàn lê dương Séc ở đó. Chỉ trong một thời gian ngắn, đoàn quân lê dương Séc này đã trở thành lực lượng hùng mạnh nhất tại Nga và thậm chí đã từng đánh bại được Hồng quân. Khi các đoàn lính lê dương cuối cùng cũng về nước khi cuộc chiến kết thúc, họ trở thành một phần của huyền thoại đất nước. Và có rất nhiều người Séc đã và đến bây giờ vẫn cho rằng Švejk không phải là một hình ảnh đại diện tốt cho tính cách Séc. Khi nước cộng hòa mới cố gắng xây dựng bản sắc và danh tiếng của mình để quảng bá tới thế giới, những người yêu nước không muốn tâm trí người đọc nước ngoài liên tưởng phẩm chất Séc với những tính cách đặc trưng của Švejk. Nhưng những nỗi sợ hãi này là vô căn cứ. Dù từ ‘schweikism’ thường được dùng để chỉ sự phản kháng đầy bị động của người Séc, bất kỳ ai đọc kỹ cuốn sách này và hiểu về người Séc đều sẽ nhận thấy rằng Švejk không nhất thiết là một người Séc. Anh ta có thể là bất kỳ người Trung Âu nào và trên thực tế, là “bất kỳ ai”  theo nghĩa rằng anh ta giống với mọi “con người nhỏ bé” bị mắc kẹt giữa những bánh xe khổng lồ của cỗ máy quan liêu.

Cần hiểu toàn diện tính cách của Švejk mới có thể có một đánh giá đúng đắn về cuốn sách. Nó rất phức tạp. Dù anh ta bị đuổi khỏi quân ngũ vì quá ngu đần, như anh ta tự hào kể với mọi người, nhưng Švejk không hề là một kẻ ngốc. Anh ta rất giỏi làm mình trông như một kẻ ngốc để cứu vãn tình thế, và có lẽ nhờ sự nhanh trí và tài lanh này mà anh ta được duyệt cho xuất ngũ. Lúc nào Švejk cũng nói kiểu nước đôi. Anh ta giả vờ đồng tình với quan điểm với bất kỳ ai mình đang nói chuyện cùng, đặc biệt nếu đó là cấp trên. Nhưng sự châm biếm mỉa mai ẩn bên dưới những lời nói ấy luôn hiện rõ. Không chỉ những quan sát và nhận xét đầy tính châm chọc mà ngay cả hành động của anh ta cũng vậy. Một ví dụ cho điều này chính là những nỗ lực rành rành để được ra mặt trận bằng việc bài bác lòng yêu nước và lòng tôn kính hoàng gia của mình, trong khi rõ ràng là những hành động đó hủy hoại những thành tựu anh ta đã tuyên bố.

Švejk không hề ngu ngốc. Anh ta là anh trai của một thầy giáo và rõ ràng là một người được ăn học, có văn hóa. Dù nói bằng thứ phương ngữ Séc nhưng anh có một vốn từ giàu có kết hợp với khối kiến thức ngang bách khoa toàn thư, thứ chắc chắn có được từ việc đọc phong phú các loại báo và tạp chí. Anh ta quan sát kỹ lưỡng bản chất con người và có những so sánh sắc bén, thấm thía. Đối phó với cấp trên, anh ta khéo léo che đậy quan điểm của bản thân, và thực ra, ngay cả khi nói chuyện với người ngang hàng, anh ta cũng hiếm khi bộc lộ suy nghĩ  thực sự của mình. Ở cuối phần I, trong cuộc nói chuyện với một người lính, anh ta đã nói đúng những gì mình nghĩ về (quan hệ) Áo-Hung: “Thứ quân chủ ngu ngốc đến thế này thì không cần tồn tại làm gì.” Tuy nhiên anh ta điềm nhiên chấp nhận, thậm chí còn có phần vui vẻ, đối mặt với tất cả những chật vật và khó khăn thiếu thốn của đời sống quân đội thời chiến. Dù rõ ràng không đánh giá cao hầu hết các cấp trên của mình, anh vẫn có tình cảm quý mến với ít nhất một sĩ quan mà ban đầu anh vốn là lính cần vụ cho ông, Trung úy Lukáš. Trong những tình huống được nắm quyền trong tay, anh ta có thể quyết đoán tới mức vô tình. Cách anh ta xử phạt Baloun vì phản bội chủ mình đối lập rõ ràng với hình ảnh vài người dựng lên về anh như một tay lính cần vụ lươn lẹo và cứng đầu. Švejk được ngưỡng mộ vì thể hiện sự cao thượng đối với những người xung quanh mình. Anh tạo thành một cặp đôi tuyệt vời đối với bất kỳ người lính hay quân nhân nào đủ xui xẻo để làm người hộ tống mình. Anh có thể khiến Thiếu úy Dub cứng họng, nhưng đồng thời lại có một phong cách gần gũi thân thiện để thu hút sự ngưỡng mộ và đồng tình từ những vị tướng tá ngốc nghếch. Anh ta có cách của riêng mình. Không mấy ai, kể cả những thẩm phán và luật sư nghiêm khắc nhất, có thể cưỡng lại đôi mắt xanh hiền lành nhưng không hề nao núng ấy.

Hơn nữa, không giống như người đã sáng tạo ra mình, Švejk không phải là thành phần vô chính phủ. Anh ta tin vào pháp luật và thực sự nói đúng lòng mình khi khẳng định quy định phải được tuân thủ. Đồng thời, anh ta cũng rất con người và giàu lòng yêu thương. “Làm sao tránh được lỗi lầm,” anh nói, luôn sẵn sàng xin lỗi và biện hộ như vậy khi bị người khác chỉ trích hoặc phàn nàn. Đây có thể là những đặc trưng phổ biến với rất nhiều người khi bị rơi vào tình thế như nhân vật Švejk. Nhưng điều làm Švejk độc đáo là sự kết hợp của tất cả những tính cách đặc trưng ấy.

Nhà văn nhanh chóng nhận ra sự vĩ đại trong cuốn tiểu thuyết của Hašek ngay sau khi nó được viết là Max Brod, người trước đó đã tìm ra hai nhân vật vĩ đại khác là Kafka và Janaček. “Hašek là người gây cười vĩ đại nhất,” ông viết. “Đời sau có lẽ sẽ vinh danh ông ngang hàng với Cervantes hay Rabelais.” Max Brod đã thấy điều gì đó tương tự Sancho Panza ở Švejk. Sự thật phần nào là thế.  Trung úy Lukáš có lẽ cũng đã nói điều này với anh lính cần vụ của mình, và trên thực tế cũng không nói nhiều, điều mà Don Quixote đã nói với Sancho Panza: “Nếu anh định kể câu chuyện của mình theo cách ấy, Sancho, và nhắc lại mọi thứ anh phải nói, thì hết hai ngày anh vẫn chưa kể xong đâu. Kể theo trình tự thời gian như một người có đầu óc xem nào, nếu không thì im đi.” Và Švejk có lẽ cũng sẽ đáp lại giống như Sancho, dù thực ra anh không làm thế: “Cách tôi đang kể là cách mọi câu chuyện ở nước tôi được kể, và tôi cũng không biết có cách nào khác nữa để kể.” Nhưng trong khi Sancho làm nền cho Don Quixote, Švejk lại là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết tiếng Séc này. Và Sancho cũng không có kiến thức hay lòng dũng cảm như Švejk. “Tôi chưa bao giờ đọc một tí sử nào vì tôi có biết đọc biết viết đâu,” Sancho đã tự nói như vậy, thừa nhận với người chủ của mình rằng bản tính anh rất ôn hòa và dễ thỏa hiệp, và “nhất định sẽ không để bản thân mình dính vào những vụ xô xát cãi cọ.”  Nhưng Švejk chắc chắn không phải là kiểu người sẽ thu thu tay bàng quan, như chúng ta có thể thấy trong cách anh cùng Vodička cãi nhau với những người Hungary hay xúi Kunert đi kêu ca với Thiếu úy Dub.

So sánh với Rabelais sẽ hợp lý hơn. Trong cuốn sách này, Hašek gần như đã viết các cuộc cãi vã bằng thứ ngôn ngữ thông tục và gay gắt. Tất nhiên ở đây, ông đang thể hiện rõ bản sắc của một người vô chính phủ, muốn khuấy động giới trung lưu khỏi sự phê pha tự mãn và thanh cao đầy giả tạo của họ. Ông cũng không ngại bới lên những nhơ nhớp chỉ để người ta biết đúng mùi của nó. Có những thời điểm ở Prague, để tạo ra một giai thoại nào đó, tất cả những gì người ta phải làm là nêu tên người vợ của một chính trị gia nổi bật và gắn với nó nhiều điều bẩn thỉu nhất có thể. Đây cũng chính là cách Hašek viết về Giáo hội Cơ đốc giáo. Một vài đoạn về người tuyên úy không thể nói rằng chỉ để tô điểm cho tác phẩm. Hašek mang một lòng hận thù và căm ghét cùng cực đối với Giáo hội Cơ đốc giáo đến nỗi trong cuốn sách này và rất nhiều truyện ngắn khác của mình, ông đã đi quá xa mục tiêu và khiến người đọc nhanh chóng thấy bội thực, nếu không muốn nói là ghê sợ. Nhưng ta cũng nên chú ý rằng ông có thái độ ôn hòa, bao dung hơn với Giáo hội Chính thống giáo.

Ta cũng không nên mù quáng bỏ qua những thiếu sót của Hašek trong vai trò của một nhà văn. Tất nhiên, ông là bậc thầy trong việc khắc họa chân dung và xây dựng hội thoại. Quả thực, chính những đoạn đối thoại của ông là thứ cung cấp chất liệu để xây dựng nhân vật. Và ông thể hiện một sự độc đáo, sáng tạo và trí tưởng tượng đáng nể trong việc sắp xếp vô số câu chuyện về Švejk và các nhân vật khác trong cuốn sách. Nhưng những nhận xét và mô tả của ông thì không thành công được như vậy. Ông giỏi ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy trong đời mình, đặc biệt qua việc đi uống ở các quán rượu – những câu chuyện, những đoạn đối thoại, những chuyến phiêu lưu; nhưng ông khá gây thất vọng với cách mô tả và phong cách trần thuật thiếu thuyết phục. Thành công lớn nhất của ông là duy trì được đà của cuốn sách và nhịp của trần thuật, dù ông đã kể quá nhiều câu chuyện khiến hành động bị kìm lại. Ông viết nhanh và ẩu. Đôi lúc ta thấy rõ là ông viết khi đang say, nên các suy nghĩ và câu cú trở nên rối rắm. Nhưng dù với những thiếu hoàn hảo như thế, Vận mệnh người lính tốt Švejk vẫn là một tác phẩm kinh điển và tôi không biết còn tiểu thuyết nào khác có thể truyền tải một cách cảm động và sâu sắc sự xấu xí của chiến tranh cùng sự vô nghĩa tuyệt đối của mọi thứ liên quan đến nó hơn cuốn tiểu thuyết này.

Lần đầu tiên được dịch sang tiếng Anh với phiên bản nguyên vẹn đầy đủ nhất, cuốn tiểu thuyết sẽ cho các độc giả nói tiếng Anh một cơ hội nhìn nhận lại đánh giá của mình về tác giả và nhân vật chính trong tiểu thuyết của tác giả. Nhưng tất nhiên, bản dịch không thể truyền đạt tới những độc giả không biết tiếng Séc hoặc Đức những điểm tinh tế hơn đã không thể tránh được mà đánh mất trong bản dịch. Hình ảnh của Josef Švejk không thể tách rời với cách anh ta bộc lộ mình. Ngôn ngữ của Švejk chính là bản thân anh ta. Thật không may, điều này lại không thể được tái hiện trong bản dịch tiếng Anh mà không gây ra nguy cơ làm méo mó hình ảnh của nhân vật, của thời đại và xã hội anh ta sống.

 

VỀ CÁC TRANH MINH HỌA

Dù Josef Lada (1887-1957) làm bạn với Hašek từ năm 1907 và vào năm 1911 đã cho đăng vài truyện ngắn của bạn lên tờ tạp chí Châm biếm mà khi đó ông đang làm biên tập, mãi cho tới năm 1921, Hašek mới nhờ ông thiết kế một chiếc bìa cho các đoạn trong cuốn tiểu thuyết được đăng hằng tuần mà từ đó Vận mệnh người lính tốt Švejk rồi sẽ dần thành hình. Lada nhận lời yêu cầu ấy và bắt tay vào việc vẽ. Ông kể lại rằng Hašek và bạn ông Sauer, khi đó đang là một nhà xuất bản tư nhân, cũng thuận tình với việc này, nhưng kết quả là, không chỉ khoản tiền vẽ không bao giờ được thanh toán mà Lada còn phải trả tiền cho bữa ăn hôm họ gặp nhau để ký hợp đồng.

Phác họa này là bản minh họa đầu tiên ông vẽ Švejk. Chúng khác rất nhiều so với những minh họa sau này mà chúng ta giờ đây đã quá quen thuộc. Và cá nhân Hašek thì chỉ chấp nhận những minh họa của Lada.

Mãi đến năm 1924, một năm sau khi Hašek mất, Lada lại nhận nhiệm vụ vẽ 540 bức về Švejk cho tờ phụ bản Chủ nhật của Nhật báo Tiếng Séc (České Slovo). Những bức vẽ này xuất hiện mỗi tuần theo dạng dài kỳ và mỗi minh họa đều đi kèm một câu chuyện ngắn do chính họa sĩ viết phỏng theo câu chuyện trong sách. Trong những bức vẽ này, Lada đã thay đổi hình ảnh của Švejk và sáng tạo ra hình ảnh của các nhân vật khác theo trí tưởng tượng của mình. Ông còn viết một đoạn kết ngắn cho cuốn sách dang dở và minh họa theo đó. Loạt tranh minh họa Švejk này trở nên phổ biến và nhanh chóng dẫn tới một phiên bản mới của cuốn sách với khoảng một phần tư là các tranh minh họa ban đầu của Lada. Nhưng đã có vài sự thay đổi. Không như trước, giờ đây Švejk hiện ra với chiếc đầu được cạo nhẵn bóng. Thực ra, càng ngày trông anh ta càng không giống Strašlipka, người có lẽ là hình mẫu của anh, mà càng giống một nhân vật của riêng Lada. Bản dịch tiếng Anh này sử dụng 156 bức trong số các tranh minh họa đó.

Hašek không nhìn thấy hay duyệt qua bất kỳ bức nào trong số các minh họa này, và dù các minh họa này không có nhiều nét giống với những con người tạo cảm hứng để Hašek sáng tạo nên các nhân vật của mình, chúng giờ đã trở thành điều không thể tách rời khỏi nhân vật Švejk của ông, như cách những bức vẽ của Tenniel gắn bó với câu chuyện Alice ở xứ sở diệu kỳ. Dù có nhiều khác biệt như vậy, những minh họa châm biếm này vẫn tái hiện rất chân thực bức tranh mà nhiều người Séc hình dung về giới viên chức Áo-Hung. Và dù Lada dường như không chút nương tay khi thể hiện những viên chức người Áo, ông cũng không bao dung hơn là mấy khi thể hiện hình ảnh của đồng bào mình – cao quý hay thấp hèn. Ở điểm này, ông đồng tình với Hašek, vì kẻ blbec trong quyển sách (ngu độn – xin phép được dùng từ yêu thích của Hašek), Thiếu úy Dub, là một người Séc và bị châm biếm không hề nương tay.

Dù Lada là một họa sĩ nghiêm túc và thành công với các tác phẩm màu nước, tranh phong cảnh, tranh động vật và minh họa sách, ngày nay ông chủ yếu được biết tới là họa sĩ minh họa cho các nhân vật trong các câu chuyện của Hašek. Ông nói mình đã vẽ 1339 bức phác để minh họa cho các tác phẩm đa dạng của Hašek và chỉ riêng cho Vận mệnh người lính tốt Švejk là 909 bức. Những bức vẽ với đường viền gọn ghẽ, nét vẽ đậm và mạnh đã giúp những hình ảnh hài hước của con người trong thời gian và không gian đó trở thành bất tử, kết hợp hiệu quả giữa sự đơn giản và tính đại chúng. Chúng như là một cuộc nổi loạn chống lại những vinh quanh và hào hùng của lịch sử và huyền thoại Séc như Mánes và Aleš đã thể hiện qua vô số những hình ảnh anh hùng Libuše, Žižka hay Jiri xứ Poděbrady, khi những trang viết của Hašek đã đi ngược lại thứ chủ nghĩa dân tộc được lãng mạn hóa trong văn chương Séc từ thời Jirásek đến Medek.

Chấm sao chút:

Đã có 4 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

One Comment on “Jaroslav Hašek: Một người lãng tử đúng nghĩa”

Bạn nghĩ sao?