Chùm truyện scifi mini của Gareth D. Jones

Thời gian đọc: 18 phút

Englebert

Dù biết đó không phải lỗi của mình, và cũng chẳng ai  trách cứ những chuyện đã rồi, nhưng Englebert vẫn cảm nhận sâu sắc nỗi mất mát từ cái chết của người bạn, cảm giác tội lỗi trĩu nặng trong lòng. Cố công quay về với một tình trạng tương đối bình thường, làm việc với những nhà phân tích khác cũng không thể khiến cho mọi thứ hết vô hồn, vô nghĩa. Những cỗ máy nano vẫn đang khuấy rối tung rối mù đầu óc. Englebert báo với Bakkar rằng mình sẽ đi xa một thời gian, đừng nên tốn công liên lạc làm gì. Rồi sau đó là chuyến đi đơn độc vào lòng sa mạc, không có cả đồ dự trữ lẫn trang thiết bị nào. Và không ai còn thấy Englebert bao giờ nữa.

Chờ đã. Đấy là phần kết. Quay về điểm bắt đầu nào.

*

“Thật không thể hiểu nổi,” Englebert nói. “Tại sao họ chẳng để cho tôi được yên?” Chú nhai đều đều tư lự khi nhìn quanh khoảnh sân, như thể câu trả lời nằm đâu đó trong đống thức ăn trong miệng.

“Mọi người không bao giờ buông tha cậu đâu,” Yusef bảo. “Bởi cậu thú vị quá còn gì.” Anh có dáng người thấp, bè bè chắc nịch, mái tóc đen nhánh và bộ ria rậm tương xứng.

“Tôi sẽ coi như đó là một lời khen.”

Englebert dạo vòng quanh khoảnh sân khô cằn, Yusef đi bên cạnh. Ở hai mặt sân giăng hàng rào dây kẽm, hai mặt còn lại có những tòa nhà trắng và thấp. Trời oi bức và bụi bặm, và bên ngoài hàng rào, quang cảnh tẻ nhạt trải dài đến tận làn sương mù nhiệt xa tít tắp.

“Chúng ta có thể rời khỏi đây,” Yusef nói. “Nếu cậu thật sự chán ngán đến mức đó.”

“Chắc vậy.” Chú lạc đà nhìn dãy hàng rào và cánh cổng xập xệ. Những thứ đó không được chế tạo để giữ an toàn tuyệt đối. Dù sao thì khoảnh sân này thuộc một trung tâm nghiên cứu chứ không phải một nhà tù.

“Hay là nói với mấy người đó là cậu cần được nghỉ một thời gian.”

“Rồi làm gì nữa?” Englebert nhổ một tiếng thật kêu lên nền đất cứng khô nẻ. “Đám nhà báo, đám dị hợm, đám khoa học điên, đám tay sai chính phủ muốn lợi dụng tôi cho mục đích xấu xa của chúng sẽ bám theo ta sát gót.”

“Cường điệu quá rồi.” Yusef chậm rãi lắc đầu và mỉm cười. “Cậu thực sự nghĩ cậu quan trọng đến vậy à?”

“Dĩ nhiên. Vì tôi là độc nhất trên đời.”

Yusef băng qua sân đến góc sân duy nhất có bóng râm và ngồi sụp xuống, tựa vào bức tường. Chắc là cả buổi chiều còn lại họ có thể muốn làm gì thì làm, trong lúc các nhà phân tích đang nghiền ngẫm dữ liệu mới nhất lấy được từ Englebert khi cố gắng đo lường năng lực trí tuệ của chú, đã được tăng cường bằng bộ xử lí nano, và thể trạng sinh lí của chú, đã được cải thiện bằng cỗ máy nano. Englebert lừng lững dòm xuống anh, vẫn đang nhai.

“Mình đi thôi,” Yusef lên tiếng sau vài giây im lặng. Anh đứng thẳng dậy đột ngột, cương quyết. Tuy anh vóc dáng thấp bé nhưng khi dự tính một điều gì thì trông anh có vẻ thật to lớn.

“Ngay bây giờ?” Englebert hỏi.

“Ừ, ngay bây giờ.” Yusef sải bước về phía cổng. Anh bấm mật mã mở ổ khóa và kéo cho cánh cửa nặng nhọc mở ra, đủ rộng để Englebert đi qua theo.

“Các cậu định đi đâu?” Đấy là một trong những nhà phân tích, Bakkar, lúc này đang nhoài người ra khung cửa sổ dán giấy đen. Chiếc cà vạt thắt lỏng lẻo rũ oặt xuống ngoài khung cửa.

“Hít thở chút không khí trong lành!” Yusef đáp to. Họ bỏ lại đằng sau cánh cổng đã được đóng cẩn thận rồi thẳng tiến trên con đường lởm chởm gồ ghề trước mặt.

Không lâu sau đó, những lời tiên tri đen tối của Englebert đã trở thành sự thật. Khi cả hai đến gần thị trấn nằm hai bên con đường cách đó một dặm, những kẻ tọc mạch bắt đầu tụ tập đông dần. Bọn người đó chọc vào mạn sườn Englebert và xô đẩy Yusef; văng tục những nghi hoặc về dòng giống của cả hai; đòi Englebert biểu diễn cho chúng xem như con thú đoàn xiếc; rủa xả chú là sự xúc phạm đến tự nhiên.

Cuối cùng họ dừng lại, con đường trước mặt ngày càng chất thêm nặng nhọc lên mỗi bước chân. Một viên cảnh sát xuất hiện, bộ đồng phục kaki bạc màu dưới ánh mặt trời, khẩu súng ngắn nằm trong bao giắt lồ lộ bên hông, nụ cười khinh khỉnh hiện trên khuôn mặt.

“Sao mấy người lại gây rối?” ông ta cật vấn.

“Mình nên quay về thôi,” Englebert nói trong lúc cố gắng kháng cự lại đám đông không ngừng thêm huyên náo.

“Chúng tôi không gây rối,” Yusef trả lời. “Ông cần xử lí đám người này mới đúng.” Anh tức giận chỉ vào đám dân thị trấn hung hăng. Họ gầm gừ đầy vẻ hăm dọa đáp trả. Một cuộc ẩu đả nổ ra, song khó có thể chỉ ra được có những ai tham gia.

“Mày về chuồng đi,” viên cảnh sát bảo.

Ai đó bị đám đông xô đẩy loạng choạng lao vào lưng viên cảnh sát. Ông ta rút súng huơ vòng vòng đe dọa.

Đám đông giãn ra đủ để Englebert và Yusef quay lưng và kịp đi vài bước ngược lại trên con đường đã dẫn họ tới đây. Ngay sau đó cuộc hỗn chiến bùng nổ.

Englebert lao vào đám đông, dùng cái đầu to hất mọi người sang hai bên. Yusef vật lộn vất vả bên cạnh. Viên cảnh sát nổ súng vào không trung. Đám đông xô đẩy và chạy tán loạn và la hét và chửi rủa. Ai đó đấm mạnh vào mặt Yusef. Anh lảo đảo lùi lại, va vào Englebert nảy ra và quay tròn, rơi vào tay một cặp dân địa phương hùng hổ khác. Một trong hai đẩy anh ngã mạnh xuống đất. Đầu đập vào đá, anh nằm bất động.

Englebert đứng che chắn phía trên bạn mình và đám đông hỗn tạp bay biến cũng nhanh như lúc tập hợp. Viên cảnh sát liếc nhanh Englebert và cho súng vào lại trong bao. Ông ta cúi xuống bên cạnh Yusef, quan sát vết cắt trên đầu anh, máu tràn thành vũng trên mặt đất khô khát. Ông ta bắt mạch và kiểm tra hơi thở của anh.

“Chết rồi,” ông nói.

Chờ đã. Đây vẫn chưa phải là điểm bắt đầu. Vẫn còn một điều xảy ra trước đó, trước câu chuyện ở khoảnh sân.

*

Englebert lúc đầu hầu như lúc nào cũng bối rối. Được áp dụng kĩ thuật sinh học tăng khả năng nhận thức thông qua việc tiêm bộ xử lí nano vào não bộ, chú đã chuyển từ một sinh thể đơn giản thích ăn uống và tận hưởng những chuyến đi dạo thành một kẻ nổi tiếng với sự độc nhất của mình – chú lạc đà có nhận thức đầu tiên và duy nhất trên thế giới. Ông hoàng Ả Rập giàu có tài trợ cho cuộc chuyển hóa này đã nói chuyện với Englebert nhiều lần, nhưng nhanh chóng mất hết kiên nhẫn khi nhận thấy sự thật rành rành là tạo tác của ông gặp nhiều khó khăn để thích nghi với trạng thái tồn tại mới.

Vài tháng sau ngày thế giới của chú đột nhiên thay đổi, Englebert chuyển đến trung tâm nghiên cứu. Ở đây, thế giới nhỏ bé hơn bội lần và cũng đỡ rối rắm hơn. Một khoảnh sân, một phòng thí nghiệm, một cái chuồng, và Yusef. Anh đã trở thành người bạn đầu tiên và duy nhất của chú. Anh đối xử với chú như một con người chứ không như một thứ quái dị. Anh giúp chú đương đầu với thế giới xung quanh.

Đúng rồi. Đó là điều đã diễn ra ban đầu. Mặc dù vẫn còn một điều khác nữa.

*

“Anh ấy không thể chết được,” Englebert đáp.

“Này, lạc đà, tao nhìn là biết ai sống ai chết. Bởi tao đã từng nhìn thấy người chết rồi. Tên này chết thật rồi.” Viên cảnh sát từ từ đứng dậy quắc mắt nhìn chú lạc đà, rồi quay lại rút điện đàm ra. Ông ta lặng lẽ nói nhanh vào máy.

“Chuyện gì thế?” Bakkar cuống quít từ phía trung tâm chạy đến, cà vạt bay phần phật qua vai. Ông dừng lại khi còn cách vài bước chân và nhìn chằm chằm vào thân thể nằm trên nền đất. “Yusef? Anh ấy có…”

“Chết rồi.” Viên cảnh sát bỏ điện đàm vào bao. “Xe tải đang trên đường đến đây.” Nói rồi ông ta băng qua đường tới ngồi trên ghế đá.

Nhà phân tích quỳ xuống cạnh Yusef.

“Tôi có thể cứu sống anh ấy,” Englebert nói. “Những cỗ máy nano của tôi có thể giúp.”

Bakkar ngước nhìn lên. “Chắc là vậy thật. Nhưng chúng được lập trình theo thể trạng của lạc đà, nó không dành cho cơ thể người.”

“Cơ thể người là một trong những thứ tôi đã học rất kỹ,” Englebert đáp. “Bộ xử lí nano của tôi đã bắt đầu lập trình lại rồi.”

“Không thể làm vậy trên cơ thể sống,” Bakkar phản kháng. “Chúng ta cần tạo một bộ xử lí khác ở phòng thí nghiệm.”

“Không còn thời giờ đâu,” Englebert nói. “Chỉ vài phút nữa tổn thương sẽ không còn cứu chữa được.”

“Những cỗ máy nano giờ đã là một phần không thể thiếu của cơ thể cậu. Cậu không thể sống nếu không mang máy với cấu hình đúng. Chúng đang hỗ trợ các chức năng sống của cậu đấy.”

“Tôi biết chứ.” Englebert nhổ một bãi nước bọt lớn lên mặt Yusef.

“Cậu làm cái gì vậy?” Nhà phân tích nhảy dựng lên.

“Phương thức chuyển giao hiệu quả nhất,” Englebert nói, và khuỵu gối xuống bởi cơ thể sinh học của cậu đã mất đi thứ chống đỡ mà nó buộc phải dựa vào.

Yusef run lên, ấp úng, mắt mở ra. Anh nhìn lên, mơ màng, đôi mắt khép lại lần nữa rồi thả lỏng, bất tỉnh nhưng vẫn còn sống.

Bakkar lại quỳ xuống. “Có tác dụng rồi,” ông nói.

“Thế thì tốt.” Englebert gục cổ xuống. “Tôi có yêu cầu này muốn nhờ ông nói lại. Tôi không có tài sản gì sất. Di chúc cũng không luôn. Thứ duy nhất tôi có là tên tôi.”

*

Yusef hấp háy mở mắt. Anh đang nằm trên giường của mình ở trung tâm nghiên cứu. Bakkar ở kế bên.

“Englebert đã cứu mạng anh,” ông nói khẽ.

“Cậu ấy ổn không?” Yusef hỏi.

Bakkar chầm chậm lắc đầu.

Dù Bakkar phản đối nhưng Yusef vẫn khăng khăng trở dậy, đi đến phòng thí nghiệm nơi cơ thể Englebert nằm yên nghỉ. Mọi thứ đều có vẻ quen thuộc, nhưng kí ức của anh rối tung lên. Những đợt déjà vu thoáng vụt qua.

“Cậu ấy muốn anh mang tên cậu ấy,” Bakkar nói.

“Ai cơ?” Yusef nhìn chằm chặp vào xác con lạc đà. Anh không nhớ nổi mình đã từng ở trong tòa nhà này bao giờ chưa.

“Englebert.”

“Tôi quen cậu ta à?”

“Ừ. Cậu ấy là bạn anh.”

“Dĩ nhiên rồi.” Yusef đưa mắt nhìn xung quanh phòng thí nghiệm quen thuộc. “Tôi nhớ là mình đang đi dạo.”

“Kí ức sẽ được khôi phục dần. Những cỗ máy nano đang thiết lập lại trí óc anh.”

“Tôi có nhớ nhiều chuyện,” Englebert nói, “nhưng hình như trật tự thì lộn tùng phèo hết cả lên.”

 

Người chèo thuyền

Mũi con thuyền gondola màu đen êm ả rẽ làn nước kênh đào phẳng lặng. Con thuyền tốt mã đã phục vụ tôi đắc lực trong nhiều năm, chuyên chở hành khách đi qua các con kênh trong thành dưới những đôi bàn tay lèo lái của nhiều thế hệ tổ tiên tôi.

Mặt trời dần tắt nắng trên thành phố cổ, biến dòng nước thành một dải khăn màu mực vắt qua giữa những tòa nhà tao nhã xây bằng sa thạch. Tôi hít thật sâu cơn gió chiều tối mát lành.

Có nơi nào đẹp hơn thành phố kênh đào kì vĩ này đây? Khi con thuyền nhẹ nhàng neo mình vào bến, tôi dừng lại nhìn đăm đắm với lòng thỏa mãn lên bầu trời sao Hỏa đang dần đổ tối.

 

Cơn Thịnh Nộ Chính Đáng Của Chuột Chũi Trụi Lông

Chuột chũi trụi lông là thứ ngầu lắm. Có người cho rằng chúng đáng yêu, nhưng thật ra không phải vậy. Chúng chỉ kì thôi. Nhưng kì cũng là một kiểu ngầu. Chúng đã phải chịu đựng rất nhiều từ sự can thiệp của con người tới môi trường nhằm làm lợi cho mình. Ngày xưa thì có thể bắt gặp chúng ở những vùng rộng lớn của Đông Phi đấy, thế rồi số lượng của chúng suy giảm vì những thủ phạm thường gặp: săn bắn, môi trường sống bị thu hẹp, canh tác quá mức, biến đổi khí hậu,vân vân và vân vân. Ý tôi là, ai mà nghiên cứu được về loài nào đó khi còn chưa kịp đếm xong thì chúng đã chết ráo trọi rồi?

Bầy chuột chũi trụi lông cuối cùng hầu như đã biến mất sạch trước khi chính phủ Kenya rốt cuộc cũng chịu thử làm gì đó để cứu vãn. Rồi bỗng một ngày, toàn bộ hai nghìn cư dân của một ngôi làng gần đó biến mất. Chuyện này cũng kì không kém.

Những người dân địa phương gần đó, một đám người nói chung vẫn mê tín, tin rằng tự nhiên đang trả đũa. Họ gọi hiện tượng này là Cơn Thịnh Nộ Chính Đáng Của Chuột Chũi Trụi Lông. Hừ, tất nhiên việc này chẳng có liên quan gì tới mấy con vật chút chít kia rồi, phải thế không? Đấy đúng là một bối cảnh kinh điển cho mấy bộ phim kinh dị rồi, thế đấy. Ý tôi là, họ nghĩ chuyện gì đã xảy ra chứ? Đám chuột chũi bé nhỏ trỗi dậy từ bờ vực tuyệt chủng và tiến hành báo thù những kẻ đã đàn áp chúng à? Tôi biết chúng có hàm răng to sắc bén thật đấy, nhưng chúng trụi lông. Và chúng là chuột chũi! Tôi nghiên cứu đám thú tí hon này lúc làm tiến sĩ, mấy người biết đấy, vì tuổi thọ đáng kinh ngạc của chúng và ứng dụng vào nghiên cứu quá trình lão hóa của con người. Chúng không ăn thịt người mà chỉ ăn các loại củ. Chúng chắc chắn không thể khiến cho cả ngôi làng biến mất.

Liên Hiệp Quốc cử vài người đến điều tra vụ mất tích, và để ghi thêm điểm, họ quyết định kéo tôi theo. Họ làm thế cũng không phải vì họ nghĩ đây là lỗi của đám chuột chũi, ồ không phải đâu. Song họ muốn tôi xuất hiện như một “chuyên gia” để phản bác lại lại sự mê tín và lời đồn đại của dân địa phương. Vậy nên tôi đã ngồi trên một chiếc Cessna nhỏ bay đến một sân bay hẻo lánh với chiếc ba lô và một hộp đựng trang thiết bị. Mặc dù có tự tin, song tôi vẫn bứt rứt lo rằng tôi rồi cũng sẽ giống các nhà khoa học vênh váo trên phim ảnh không thèm tin vào những lời cảnh cáo trước khi mọi chuyện thành ra quá muộn. Tôi mường tượng viễn cảnh mình bị đè bẹp dưới đàn đàn lũ lũ chuột chũi trụi lông, bị hất ngã trên mặt đất và nhận ra sai lầm của mình khi chúng bắt đầu gặm nhấm ngón chân tôi. Ở dạng 3D.

Chắc là mấy người đang suy đoán rằng chuyện đó đã không xảy ra, nếu không thì làm sao tôi có thể kể lại chuyện này cho mấy người. Cơ mà tôi đâu có cần tới ngón chân để gõ phím đúng không? Hả?

Mà không, mấy người đoán đúng rồi đấy. Chuyện đó không xảy ra. Nhưng cho mấy người biết, những gì chúng tôi phát hiện ở Kenya còn quái lạ hơn rất nhiều.

Bên kia lối đi hẹp, khi chúng tôi đang bay ở độ cao bốn nghìn bộ, là trưởng nhóm của chúng tôi trong nhiệm vụ này. Bà chị đó tầm bốn mươi, tôi đoán thế, bả mặc bộ kaki kiểu quân đội, tóc cắt ngắn và cung cách cũng rất sốc. Tiến sĩ Bracke là người Bỉ. Bả có tên riêng, chắc chắn rồi, nhưng tôi không bao giờ có quyền được gọi tên riêng của bả. Nghiêm túc, thông minh, thuần thục: bà chị là chuyên viên điều tra đặc biệt của Liên Hợp Quốc và bả muốn mọi người biết điều đó.

Còn bốn người nữa đi cùng chúng tôi tạo thành một đội chính thống: phụ tá người Bỉ của bà tiến sĩ, một cố vấn an ninh, một điều tra viên pháp lí tên Tegan, và giáo sư Heinz là cố vấn khoa học. Thêm hai đặc công để bảo vệ chúng tôi. Trông hai cậu này còn chưa đủ tuổi tự chăm nom bản thân. Ngoài hai đặc công thì tôi là người trẻ nhất, hai mươi bảy. Tôi đoán chắc là không có nhiều chuyên gia về chuột chũi trụi lông cho họ lựa.

Trời rất nóng lúc chúng tôi rời máy bay. Tôi đoán chuyện này hiển nhiên quá rồi. Tôi đang ở châu Phi, mấy người còn mong chờ gì nữa? Sân bay nền đất được san phẳng, bao quanh là đồng cỏ trải dài ngút mắt. Một căn nhà gỗ thấp đứng cách chỗ chúng tôi khoảng hai trăm mét, hai chiếc jeep cũ đỗ bên hông. Cả căn lán và xe đều bong tróc sơn. Tôi để mắt trông chừng những hàm răng sắc bén khi tôi lê bước xuyên qua cái nóng đổ lửa. Ba lô của tôi như nặng gấp đôi so với lúc tôi gói ghém đồ đạc mang theo.

Một người đàn ông cao ráo, mặt chau lại, bước ra từ căn lán và đứng đó yên lặng khi chúng tôi đến gần. Ông ta mặc kiểu đồ quân sự cắt ngắn, và đi chân trần.

“Tôi sẽ đưa mọi người tới làng.” Ông vào việc luôn.

Tiến sĩ Bracke đưa tay ra giữa chừng định bắt, và hẳn là đã chuẩn bị sẵn một màn giới thiệu hoành tráng. Người đàn ông quay đi leo lên chiếc jeep gần nhất. Vị tiến sĩ đằng hắng thật lớn, một màn tôi chả bao giờ đạt đến mức điêu luyện được, rồi trèo lên ghế bên cạnh. Ba điều tra viên đồng hành trèo vào băng sau. Một người gầy gò với đôi mắt to xuất hiện trên ghế lái ở chiếc jeep thứ hai, vừa nằm sụm xuống giờ vươn người thẳng dậy. Tegan nhanh chóng nhảy lên ghế trước, cô rõ là không khoái việc bị ép dí ở băng sau với hai đặc công ướt đẫm mồ hôi. Vậy nên đó là số phận của tôi trong một tiếng đồng hồ tới, trong khi cả đám bị dằn xóc trên mặt đường cứng và tôi phát hiện loại xe jeep chở chúng tôi không có điều hòa.

Lúc cuối cùng cũng tới nơi, tôi nghĩ tôi đã chết vì nóng đâu đó dọc đường mà chính mình cũng không hay biết. Hai đặc công nhảy ra khỏi xe và quả quyết sải bước về mấy căn lán gần nhất, trông dữ tợn và mướt mát mồ hôi. Tài xế của chúng tôi lại sụm xuống trong ghế lái và nhắm mắt. Tôi chậm chạp trèo ra, thấy mình như miếng giẻ rách rũ rượi, và thoáng nghĩ có nên mở cửa cho Tegan. Tiện thể nói luôn, việc tôi nhớ tên cô không có nghĩa là cô sẽ sống sót, nên đừng vội yên trí như vậy. Tegan lắm tàn nhang và mái tóc dợn sóng ướt đẫm giờ đã bết cả vào đầu. Tới lúc tôi dồn hết sức lực đứng thẳng người lên được thì cô đã tự ra ngoài xe rồi. Tôi để ba lô của mình lại ghế sau.

Người hướng dẫn của chúng tôi, nếu có thể gọi đó là hướng dẫn, dẫn đường cho những người còn lại. Ông đứng khựng lại bên rìa nhà ở gần nhất và ra dấu chỉ về phía ngôi làng lặng thinh. Hai viên đặc công đang tuần tra theo hai hướng khác nhau là chuyển động duy nhất dưới ánh mặt trời chiều muộn.

“Được rồi,” tiến sĩ Bracke lên tiếng, vỗ tay, “bắt đầu vào việc thôi.” Bà ta bắt đầu đưa ra các mệnh lệnh, dạy cho chúng tôi nhiệm vụ của từng người, phòng trường hợp hơi nóng đã làm đầu óc chúng tôi mụ mị, tôi đoán thế, căn dặn chúng tôi phải luôn đề phòng, dặn chúng tôi không được đi quá xa, nhắc nhở chúng tôi luôn đi thành từng cặp, và nói chung làm cho phần não còn lại của tôi phát chán đến nỗi phải đầu hàng. Bà chị này hẳn được sinh ra cho những việc thế này.

Tôi gật đầu cảm ơn người hướng dẫn. Ông không nói gì, rồi quay lại chiếc jeep. Vị tiến sĩ đi lòng vòng cùng người phụ tá, một ông người Bỉ phốp pháp lớn hơn vị tiến sĩ mười tuổi. Tôi không bao giờ còn nhìn thấy ông từ lúc đó.

Công việc của tôi ở làng khá ít. Trong khi những người kia bận tâm tìm hiểu xem hai nghìn con người đã biến đi đâu mất, tôi chỉ việc tìm kiếm những dấu hiệu của loài chuột chũi. Tôi đã mong mình được chung nhóm với Tegan, cô chỉ lớn hơn tôi vài ba tuổi, còn những người khác lớn hơn tôi rất nhiều, chừng như bốn chục hoặc hơn. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ có nhiều điểm chung để tán chuyện với nhau, nhưng cô nàng đã đi với cố vấn an ninh, một gã có mái tóc màu xám sắt và bước đi khập khiễng. Chỉ còn lại cố vấn khoa học: một ông giáo sư ở trường sở danh giá nào đó tên Bartholomew Heinz. Ông tầm sáu chục, mái tóc bạc trắng và gương mặt đỏ lựng, và đã kịp ghi chú vài thứ trong chiếc máy tính bảng cỡ nhỏ. Ông ngước mắt nhìn lên khi tôi lại gần, gật đầu gọn lỏn rồi chỉ về căn lán gần nhất.

“Ta đi chứ?” ông hỏi, và thoăn thoắt bỏ đi.

Không một dấu hiệu nào cho thấy có hang chuột chũi – những mô đất nhỏ hình núi lửa. Tôi đi theo ông, hi vọng sẽ tìm thấy thứ gì đó giải khuây cho mình.

Mấy căn lán đều xây tròn bằng gạch bùn và mái tranh hình vòm. Có vẻ như chúng chẳng có gì bất thường – không thấy dấu răng của lũ chuột chũi đào xuyên tường lẫn những ụ đất đùn lên bên trong lán khi chúng trồi lên từ dưới lòng đất và bắt cóc cả gia đình trong đêm tối. Tôi cảm thấy mình có chút không liên quan ở đây.

Heinz dông dài một thôi một hồi về lí thuyết kiến tạo địa tầng mới nhất trong lúc bước đi. Cứ như tôi thấy nó hoàn toàn chẳng dính dáng gì tới nhiệm vụ của chúng tôi, nhưng nó khiến Heinz vô cùng thích thú. Tôi thấy những cặp khác lâu lâu xuất hiện quanh các căn lán. Chúng tôi vào ra những ngôi nhà, nhưng tuyệt nhiên không thể đi đến một kết luận nào. Nơi này như thể bị bỏ rơi giữa một ngày hết sức bình thường như con tàu Marie Celeste vậy, chỉ có điều ít nước hơn.

Máy điện đàm mà Heinz kẹp vào dây nịt kêu lạo xạo. Tôi không có máy điện đàm; rõ là do tôi không đủ tầm quan trọng. Tiến sĩ Bracke nói bằng giọng căng thẳng:

“Có ai nhìn thấy Bart không?”

Đó là tên của ông người Bỉ, phụ tá của bả. Chúng tôi không ai thấy ông. Tôi nghĩ thật nực cười là sau khi thuyết giảng một tràng cho chúng tôi, bả lại là người để lạc mất bạn đồng hành. Dù sao chuyện này cũng hài hước trong khoảng một phút. Sau đó nữa thì không.

Từng giọng nói lần lượt xen vào, thú nhận rằng họ cũng không thấy Bart nốt.

“Rồi, chuyện này nghiêm trọng đây. Ông ấy biến mất rồi.”

Giây phút đó nụ cười của tôi tắt ngấm. Tôi đã gần như quên rằng chúng tôi đang điều tra một vụ mất tích tập thể. Trời vẫn còn sáng, và chúng tôi có binh lính bên cạnh, và không mảy may có lấy một tiếng động nào cho thấy nguy hiểm. Mấy người đâu thể ngờ có ai biến mất theo lối như vậy, đúng không nào? Tôi thì chắc chắn không.

“Mọi người đến chỗ tôi ngay,” tiến sĩ Bracke nói. “Chúng ta cần tìm ra ông ấy.”

Sau đó tôi nghe thấy tiếng bả gọi Bart bên ngoài máy điện đàm khi chúng tôi đi ngang qua làng. Một trong những đặc công đã ở chỗ bả lúc chúng tôi tới gần. Tegan và người đồng hành khập khiễng đi tới từ một góc khác ngay trước chúng tôi. Heinz là người chậm nhất, và tôi đủ hãi để bám rịt lấy ông. Viên đặc công đang liên tục đưa mắt đảo vòng quanh chu vi khu làng lúc chúng tôi đến nơi. Anh ta vẫy tay đáp lại người lính kia đang tiến đến từ đầu kia làng. Tôi dõi theo bước đi của anh, chú ý điệu bộ cảnh giác kìm lại của anh. Anh ta lọt khỏi tầm mắt khi đi qua phía sau một căn lán.

Im lặng kéo dài suốt những giây đằng đẵng. Anh ta không xuất hiện trở lại. Tôi căng mắt nhìn mép rìa căn lán nơi đáng lẽ anh ta phải hiện ra. Không có gì hết. Tiến sĩ Bracke lầm rầm văng tục bằng thứ tiếng Hà Lan miền Bắc nước Bỉ. Tôi không biết ngôn ngữ đó, nhưng tôi khá chắc mình hiểu ý bả. Đặc công còn lại tiến lên phía trước, nhưng vị tiến sĩ đưa tay chặn lại.

“Gọi anh ta đi,” bả nói, giọng điềm tĩnh lạ thường.

Không một ai phát ra tiếng động nào.

“Bravo Hai, vào đây đi.”

Heinz lấy khăn mùi soa lau cái trán ướt đẫm.

“Bravo Hai, vào đây.”

Không gì hết.

“Bravo Hai, tới trình diện.”

Viên đặc công, tôi đoán là Bravo Một, lôi từ túi ra bộ định vị vệ tinh nhỏ. Anh nhìn chằm chằm vào nó một hồi lâu.

“Không có tín hiệu gì từ máy tiếp sóng của anh ấy, thưa bà.”

Khi giọng nói của một viên đặc công to khỏe giết người cái một tỏ ra run sợ, tôi biết đã đến lúc phải lo lắng thật rồi.

“Phạm vi bao nhiêu?” Giọng tiến sĩ Bracke gần như tiếng thì thầm.

“Năm cây.” Tôi nghĩ đó là ki lô mét. Tôi nên tra cứu chuyện này.

“Tôi đi kiểm tra đây,” Bravo Một nói.

“Đừng lọt khỏi mắt chúng tôi,” tiến sĩ Bracke bảo.

Bravo Một chầm chậm tiến về phía căn lán đang được bàn tán nãy giờ. Anh vẫn di chuyển trong tầm mắt chúng tôi và vượt qua căn lán, vũ khí sẵn sàng. Rồi anh nhìn quanh.

“Không thấy gì hết.”

“Ở yên đó,” tiến sĩ Bracke gọi với. Bà quay sang chúng tôi. “Rồi, chúng ta phải bám sát nhau. Di chuyển về phía đó.”

Chúng tôi đi thật chậm, như một bầy cừu nhỏ, đến khi tới chỗ Bravo Một.

Không có gì đằng sau căn lán.

“Giáo sư Heinz?”

Bartholomew Heinz ngây ra nhìn trưởng nhóm của chúng tôi, như thể ông vừa nhận ra ông ở đây là có lí do.

“Tôi không biết gì hết,” ông nói. Ít nhất thì ông đã thành thật trong chuyện này.

Giống như theo hiệu lệnh, tất cả mọi người đồng loạt gọi to, hoặc qua máy điện đàm hoặc chỉ đơn giản gọi vào không trung im phắc.

“Bart!”

“Bravo Hai!”

Sự náo động ngớt dần sau một phút.

“Quay lại xe jeep đi,” tiến sĩ Bracke nói. “Chuyện này nguy hiểm hơn chúng ta tưởng.”

Không ai cãi lại. Bravo Một xếp chúng tôi đi giãn nhau ra thêm một chút, để chúng tôi vẫn đi bên nhau mà không cản đường nhau nếu phải chạy, hoặc không ngáng đường anh ta nếu phải bắn. Tôi thật sự ước có gì đó để anh ta bắn, bởi thành thật mà nói, những vụ biến mất đột ngột và sự tĩnh lặng làm tôi sởn cả người. Tôi cố nhoẻn cười trấn an Heinz, phòng khi ông lão lên cơn đau tim hay gì đó, nhưng trông ông còn ít lo sợ hơn tôi. Bên kia ông, ngoài cùng nhóm chúng tôi, Tegan bước đi trong âu lo.

Rồi cô mất tăm.

Không phải là cô thình lình biến mất đâu. Không ánh chớp cũng không tiếng nổ, cũng không lỗ thủng trên đất. Mà như thể cô ấy đang đi đằng sau một tấm phông, mấy người biết các tấm phông nền sân khấu vẽ cảnh miền quê đấy. Giống như ai đó đã đặt đại tấm phông vào giữa ngôi làng, vẽ cho nó y chang một phần của ngôi làng, và cô đi vào phía sau tấm phông đó. Chỉ có điều cô không bao giờ bước trở ra. Và không có tấm phông nào ở đó hết.

Tôi rú lên. Tôi thừa nhận: tôi đã rú như một đứa con gái. Ý tôi là, tôi đang nhìn ngay đúng vào cô và cô chỉ đi đâu đó, và không bao giờ trở lại. Không ai khác nhìn cô lúc đó, mọi người đều đi phía trước, ngoại trừ Heinz là nhìn đăm đăm xuống đất.

Mọi người dừng lại và nhìn chòng chọc, và lắp bắp gì đó, còn tôi chỉ đứng nhìn chăm chăm và líu ríu kể chuyện vừa xảy ra. Rồi chúng tôi chạy. Quên kỉ luật đi. Chúng tôi quá hãi hùng. Tôi điếng cả người. Mấy người không thể tưởng tượng nổi là như thế nào đâu. Cô cứ thế biến mất!

Chúng tôi chạy về chỗ mấy chiếc jeep và người hướng dẫn chậm chạp bước ra lúc chúng tôi lảo đảo dừng lại. Ông ta có làn da đen, màu đen sậm, nhưng tôi thề ông xanh tái hẳn ra khi đưa tay chỉ qua vai chúng tôi. Tôi chưa từng thấy ông như thế. Tôi nhìn một lượt, nhưng không có gì ở đó cả. Heinz vẫn ở cạnh tôi, mặt đỏ bừng và thở hổn hển. Tôi thoáng cảm thấy tội lỗi vì đã bỏ ông lại phía sau, nhưng ông đã vận hết tốc lực từ trên trời rơi xuống.

“Anh ta bị bắt đi rồi,” người hướng dẫn nói, tay vẫn chỉ về phía đó.

Tôi thử đếm đầu người, bối rối một chút về việc đáng ra thì phải có bao nhiêu người ở đây. Chính là cố vấn an ninh, gã bước đi khập khiễng. Gã không có ở đây.

Sau lưng chúng tôi, chiếc jeep kia rồ máy chạy vụt đi trong đám bụi mịt mù.

Tiến sĩ Bracke lại văng tục lần nữa.

Viên đặc công chộp lấy cánh tay người hướng dẫn, chỉ để phòng hờ nhỡ ông ta cũng muốn rời đi mà không có chúng tôi theo cùng.

Trưởng nhóm của chúng tôi đã lấy lại bình tĩnh khi chúng tôi đứng đó, mắt trợn tròn và thở nặng nhọc.

“Chúng ta cần bố trí một vòng phong tỏa,” bà nói. “Chuyện này thật tình rất kì quặc. Chúng ta sẽ phải cần nhiều thiết bị, nhiều biện pháp an ninh hơn.”

Bà gật đầu với Bravo Một.

“Quay về sân bay, lập căn cứ tác chiến đã.”

Anh ta gật đầu đáp lại, và chúng tôi nhồi nhét vào chiếc jeep. Tôi cuối cùng bị xếp vào với đống hành lí băng sau. Đương nhiên, đặt căn cứ tác chiến ở ngay đó, nằm gần ngôi làng, thì hợp lý hơn nhiều, nhưng tôi chắc chắn sẽ không tình nguyện ở lại đó, và những người khác cũng vậy.

Phải mất vài ngày nhưng cuối cùng chúng tôi cũng có cả trung đội Lục quân Kenya đóng quân quanh ngôi làng, với những rào chắn tạm thời được bố trí thích hợp. Cả tá nhà khoa học xuất hiện với những hộp những thùng, lều trại và ghế xếp. Và cả đống hoài nghi, nhưng đã bay biến mau chóng khi chúng tôi lùa một đàn dê đi qua làng và một nửa trong số chúng không bao giờ trở ra. Họ cũng mất một người máy thám hiểm trước khi cả đám tin hết.

Tôi nói chung bỏ mặc họ lại đó để sang thăm chừng bầy chuột chũi trụi lông gần đấy. Những nhà khoa học rất phấn chấn về hiện tượng lạ lùng phát hiện ở ngôi làng, còn tôi muốn tránh càng xa càng tốt. Tôi thỉnh thoảng lại tự hỏi, Tegan và những người kia đã bị đưa đi đâu. Quay ngược về quá khứ? Đi tới tương lai? Tới một chiều kích khác, một hành tinh khác? Bốc hơi thành các hạt hạ nguyên tử? Nếu quả thật họ đi đâu đó, thì họ có tìm thấy chuột chũi cả ở đó không?

Câu trả lời đến vài tuần sau đó, khi Tegan xuất hiện trở lại một ngày kia. Tôi gặp cô vào sáng hôm sau, cô hốc hác và bẩn thỉu, đôi mắt chứa đựng cái nhìn u ám. Bọn họ đều là nô lệ, cô kể. Trên một Trái Đất song song, tất cả những kẻ biến mất đều bị loài thống trị biến thành nô lệ. Chuột chũi trụi lông là kẻ cai trị thế giới đó, và công nghệ của chúng tiến bộ vượt xa công nghệ của ta. Chúng tạo ra các rãnh nứt nằm giữa các thực tại và chúng tiến hành khám phá.

Trên Trái Đất chúng ta, chúng tìm thấy bầy cuối cùng của giống loài chúng trong tình trạng đáng buồn, và nhanh chóng đi đến kết luận lỗi là ở chúng ta. Mà nghĩ thế cũng khá đúng. Trên Trái Đất của chúng không có loài người – ai biết được chuyện gì đã xảy ra với họ? Chúng bắt đầu bắt con người qua các rãnh nứt, tổ chức thành một bầy người sống biệt lập để nghiên cứu, và cho loài người chúng ta cơ hội trải nghiệm những gì ta đã gây ra cho loài chuột chũi.

Chúng gửi Tegan về đây cùng với một lời nhắn. Chúng muốn nói chuyện với một phái viên của Trái Đất chúng ta. Chúng muốn chúng ta trả lại công lý cho những chú chuột chũi không mấy thông minh ở chỗ chúng ta. Cô đoan chắc có mấy cái rãnh nứt ấy chúng có thể làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên vô cùng khốn khổ.

Rất nhiều cuộc bàn luận căng thẳng đã diễn ra giữa đám khoa học và chính trị gia và đám quân sự xem nên cử ai tới đó. Tôi không được biết gì về bất cứ cuộc tranh luận nào, nhưng mấy người có thể đoán họ nêu tên ai rồi đấy.

Có vẻ như tôi sắp phải đi đối mặt với cơn thịnh nộ chính đáng của chuột chũi trụi lông rồi đây.

 

(Chùm truyện ngắn do tác giả gửi đến Zzz Review đáp lại Zzz 7 về khoa học viễn tưởng.)

Tranh: Kênh đào sao Hỏa của họa sĩ Mark Salwowski.

Chấm sao chút:

Đã có 0 người chấm, trung bình 0 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Gareth D. Jones

Nhà khoa học môi trường, người viết, người cha của 5 đứa con. Sáng tác của ông đã công bố trên hơn 40 tạp chí, website bằng 29 ngôn ngữ (nay là 30), khiến ông một cách không chính thức trở thành tác giả truyện ngắn khoa học viễn tưởng được dịch nhiều thứ hai trên thế giới.

Đỗ Quyên

Yêu màu xanh lá và tập tành làm trẻ thơ.

Bạn nghĩ sao?