BĐ hay BĐĐ – Đi săn con đạo văn

Thời gian đọc: 30 phút

Con bướm đập cánh ở Văn nghệ quân đội, gió máy bay đến blog nhà Z, tôi đã tâm nguyện tịnh thân không dính đến thị phi vẫn phải tò mò ló ra nhìn xem có gì mà rộn. Buồn thay, nhìn xong tôi vẫn thấy chẳng có gì mà rộn cả, ấy thế mà có vẻ lại hơi bị rộn, đến nỗi tôi cũng chộn rộn cảm thấy cần phải ghi lại mấy câu về cái sự nhìn của tôi.

Phương pháp nhìn của tôi như sau: đầu tiên tôi nhìn truyện ngắn đang nghe xôn xao là đạo văn, sau đó tôi nín thở nhìn lại thật nhanh truyện (vừa?) được kể là bị đạo, sau đó tôi ngẩn ngơ suy nghĩ một tí rồi nhìn tới hai bài viết một ngắn một dài một bảo đạo một bảo không. Nhìn xong tôi lại ngẩn ngơ thêm nhiều tí, đôi chỗ còn phải nhìn lại xem mình có nhìn nhầm hay không, rồi ghi ra mấy câu này. Chẳng cần phải nói rằng đây là ghi chép cụ thể về một sự nhìn cụ thể của một người nhìn cụ thể là tôi, chứ không phải phát ngôn chính thức của một nhà nào, ấy nhưng sự đời oái oăm cho bài viết của tôi đi liền sau hai bài chính phản khiến người đời rất dễ mong chờ bài này là một sự hợp đề, nếu vậy thì cũng chịu, âu cũng là do giáo dục triết Mác trong nhà trường mà ra.

Tôi cũng không dám nói là sự nhìn của tôi trong sáng rộng mở lòng, trái lại tôi đã khởi sự nhìn bằng con mắt đầy thành kiến, bởi mấy năm nay những câu chuyện đạo văn chốc chốc lại tòi ra làm hoen ố cả vùng trời sách vở, mà đạo văn dĩ nhiên là trọng tội tày đình trong giới bán chữ mà sống, sánh được nó có lẽ chỉ có tội quỵt bản quyền mà thôi. Nên tôi cũng trang bị đủ đinh ba dao quắm mà lao vào “Bồ đoàn đỏ”, sẵn sàng đi săn từng câu từng chữ bị đạo để lôi ra nhắm rượu, sẵn sàng hòa cùng quần chúng trong ngày hội cách mạng, để lần nữa trả lại công lý trong văn học, vỗ về sự sướng khoái của mình trong văn hóa công phẫn có lẽ là điểm chung duy nhất trong đời sống tinh thần quá ư chia rẽ của chúng ta. Nhưng rồi đọc xong “Bồ đoàn đỏ”, tôi có chút… thất vọng. À không, phải nói là rất nhiều thất vọng.

tl;dr tôi không nghĩ có thể gọi đây là đạo văn.

Trước hết hãy nói về những điểm giống nhau giữa hai truyện, như hai người đi trước tôi đã làm. Điểm giống đầu tiên và lớn nhất mà ai mới đọc cũng nhận ra ngay từ những dòng đầu tiên, đấy là bối cảnh và không khí truyện. Thế nhưng khi mới bắt vào “Bồ đoàn”, thấy quen quen như đã gặp ở đâu đó, thì điều tôi nghĩ đến đầu tiên không phải là “Bóng đè” đang ngồi chình ình trong đầu tôi và la hét “đi săn thứ đạo văn!” (có lẽ một phần cũng vì lần trước tôi đọc nó, đã là mười mấy năm về trước rồi), mà là phim Vợ Ba xem năm ngoái, cùng Tấm Cám và một vạn cái MV cổ trang chốc chốc lại trend trên mạng xã hội. Cổ trang đã quá thịnh hành trong văn hóa đại chúng mấy năm gần đây, từ sách vở phim ảnh cho đến cosplay, làm tôi đọc hết nửa truyện vẫn cứ ngỡ mình đang đọc cổ trang. (Bài viết của Hanhfm nhận xét rất có lý rằng chi tiết “Vốn là một kỹ sư trẻ” được nhét vào quá sức vội vã. Tôi cũng đồng ý rằng nếu chi tiết này được nếu được cài cắm từ đầu thì sẽ thuyết phục hơn rất nhiều. Về mặt này, “Bóng đè” làm tốt hơn hẳn, không chỉ thiết lập một background rất cụ thể rõ ràng cho nhân vật chính, mà không gian “thành phố” và cuộc sống ở thành phố của hai vợ chồng cũng chiếm một dung lượng rất lớn trong truyện; khi đọc lại, tôi ngạc nhiên nhận ra cuộc sex với ma nóng bỏng, ướt át, tỉ mỉ, và hẳn nhiên là điều duy nhất hầu hết mọi người (chẳng hạn tôi) còn nhớ, phải mãi đến mốc nửa văn bản rất dài này mới xuất hiện.) Sau đó, trope căn phòng bị khóa kín khiến tôi nghĩ đến Yêu Râu Xanh trước hết, còn trope nằm mơ đã quá phổ biến trong đủ loại văn học nghệ thuật lẫn phi nghệ thuật rồi, nhưng ta sẽ bàn sau.

Lựa chọn bối cảnh gia đình chồng ở nông thôn như vậy là điểm giống nhau đầu tiên giữa BĐ và BĐĐ, nhưng đối với người đọc là tôi, nó không đưa đến ý nghĩ “BĐ2 bắt chước BĐ1”, mà chỉ là ý nghĩ “cả hai cùng rút ra từ một bối cảnh phổ biến ở Việt Nam”. Cá nhân tôi thấy lựa chọn này khá mòn sáo; nhưng mặt khác, nếu muốn tạo không khí kinh dị, như cả hai truyện này đã làm, thì đó lại là lựa chọn có tính chất gần như tất yếu, hoặc ít ra là cũng dễ dàng. Cốt truyện kinh dị có nhân vật chính bước vào một thế giới xa lạ, gần như thù địch, khám phá các bí mật ở đó, sau đó hoặc chiến thắng hoặc thoát ra khỏi đó trở về với cuộc sống hiện thực; ở quy mô nhỏ, đó có thể là chuyến thám hiểm căn nhà ma của đội thám tử nhí Conan; ở quy mô lớn, đó là Harker bước vào tòa lâu đài của Dracula; nếu nhân vật chính là nữ, hầu như luôn gắn với yếu tố tình yêu và/hoặc tình dục, như câu chuyện về người vợ Yêu Râu Xanh đã nhắc đến ở trên. Cốt truyện này còn không nhất thiết gắn với yếu tố kinh dị, ví dụ như nhân vật chính trong hai bộ ngôn tình khuynh đảo thế giới thập kỷ gần đây là Bella và Anastasia, hai cô Alice trong xứ sở ma cà rồng và BDSM, hoặc một ngàn bộ phim/sách cung đấu Trung Hoa; nhưng nếu trong những trường hợp đó sự xa lạ gợi lên chủ yếu là sự tò mò và hứng thú khám phá, thì trong truyện kinh dị xa lạ gợi nên nỗi sợ và đe dọa. Xa lạ có thể về thời gian, không gian, văn hóa (cái này thường là hệ quả của hai cái kia), thậm chí khác giống (Bella); một lựa chọn như “dòng họ nhà chồng ở quê” hội đủ ba yếu tố này. Bối cảnh “dòng họ nhà chồng ở quê” cho phép khai thác những yếu tố kinh dị khó có thể triển khai mà vẫn giữ tính thuyết phục ở thành phố – hãy tưởng tượng chiếc bồ đoàn đỏ đặt trên tấm phản kê bên tủ UMA ở một căn penthouse trên đỉnh cao ốc nào đó, sẽ thấy độ vênh đến mức nào. Thêm nữa, lựa chọn này mòn sáo chính bởi nó quá phổ biến ở Việt Nam; đại đa số chị em ở thành phố đều có một quê chồng (hay người yêu) để về thăm, và những chuyến về thăm ấy hẳn đều có ít nhất một giai thoại chứa những yếu tố ít nhiều kinh dị (siêu nhiên hay chẳng siêu nhiên); tôi biết rằng “dòng họ nhà chồng ở quê” đã là bối cảnh cho vô số, không phải tác phẩm văn học, mà là chuyện đàm tiếu công ty từ thuở tôi là sinh viên đi thực tập tới giờ.

“Dòng họ nhà chồng ở quê” cũng là bối cảnh lý tưởng cho những tác phẩm có khuynh hướng nữ quyền; ở Việt Nam, thật ra hai chữ “nhà chồng” đã đủ gợi cho các chị em có tí ham muốn phấn đấu hoặc tính tình ngang ngược hoặc không đủ thùy mị lam làm kha khá cơn ác mộng rồi, nhưng “dòng họ” “ở quê” nhân bội những ác mộng ấy; có chút thành tựu nào trong công cuộc giải phóng phụ nữ theo hướng tư sản mấy thập kỷ qua thì đều diễn ra ở thành phố, còn ở quê gần như vẫn có cảm giác ao tù nước đọng (và sức hút của không gian lớn đến mức cả những cá nhân và những mối quan hệ rất sảng khoái, rất giải phóng ở thành phố thì đều dường như cắm cúi khép mình vào khuôn cũ khi được chuyển dịch về quê – một sự thay đổi được miêu tả rất đặc sắc trong BĐ1); và “dòng họ” không chỉ là sức nặng phụ quyền truyền thống đè lên đầu nhân vật nữ chính, mà hơn hết, còn là lớp lớp những người nữ – những bà mẹ, bà dì, bà tổ, thông qua nín nhịn, vâng chịu hay thẳng thừng đồng lõa, đã góp một vài bịch cát không nhỏ vào sức nặng kia. Đây cũng không phải hiện tượng gì đặc trưng cho Việt Nam; cuốn sách mỏng Sinh năm 1982 khá hot của Hàn Quốc cho thấy một ví dụ về điều này, cuốn sách dày rất hót Chuyện người Tùy nữ của Margaret Atwood idol tôi thì xây dựng hẳn một tầng lớp phụ nữ chuyên đi làm cái việc này. Trong BĐ lẫn BĐĐ, mô típ này được xây dựng rất tốt, mặc dù BĐĐ thì vượt hơn một bậc khi cho thấy các thế hệ nàng dâu (chuyển hóa thành) mẹ chồng được truyền thừa lại tấm bồ đoàn, chùm chìa khóa, cùng nhiệm vụ đi đo mông con gái nhà người ta.

Cuối cùng, không khí kinh dị cũng thuận lợi cho thông điệp nữ quyền là bởi với phụ nữ, mối đe dọa lớn nhất thường là mối đe dọa nhắm vào cơ thể mình, hoặc nếu nhắm vào một khía cạnh khác, thì cũng thực hiện thông qua cơ thể mình (hãm hiếp như một cách thể hiện quyền thống trị, là một ví dụ điển hình; cuộc tranh luận xung quanh quyền phá thai là một ví dụ điển hình khác). Lại trích một câu của Atwood idol tôi: “Đàn ông sợ phụ nữ cười; phụ nữ sợ đàn ông giết.” Không phải vô cớ mà cô bé quàng khăn đỏ thường được đọc như một ẩn dụ về cưỡng hiếp; có thể xem thêm truyện ngắn “The Company of Wolves” của Angela Carter và bộ phim cùng tên của Neil Jordan phát triển đề tài này.

Như vậy, bối cảnh quê chồng-không khí kinh dị-thông điệp nữ quyền là một combo rất ăn ý, và sự góp mặt tình cờ của cả ba trong một tác phẩm là có thể hiểu được. Tôi không muốn nói rằng nếu muốn viết một câu chuyện nữ quyền, nhất thiết phải đặt trong bối cảnh quê chồng và mang màu sắc kinh dị; tôi muốn nói rằng nếu BĐĐ muốn đề cập thông điệp nữ quyền và lựa chọn bối cảnh quê chồng trong đó xuất hiện một vài yếu tố kinh dị, thì đó có thể là sự phát triển hữu cơ, chứ không nhất thiết là bắt chước của một người đi trước, dù là Đỗ Hoàng Diệu hay bất cứ ai khác. Đỗ Hoàng Diệu không phải người phát minh ra bối cảnh quê chồng hay các cô gái ngủ với ma, tất nhiên cũng không giành độc quyền sử dụng các mô típ này.

Một khi đã có lựa chọn bối cảnh “dòng họ nhà chồng ở quê”, thì các chi tiết giống nhau lại càng là một sự tất yếu. Ngôi mộ, thắp hương, nhà cổ, chiếc phản (tôi kể ra theo Hanhfm, vì tôi không rõ những người chủ trương “đạo” khác còn nhặt ra những chi tiết nào) gần như là những chi tiết chắc chắn phải có khi nhắc đến một người con dâu về ra mắt gia đình chồng (và chẳng cần nói đến con dâu hay nhà chồng – đấy là những chi tiết tất yếu khi nói đến “về quê”; ít ra là quê miền Bắc, ở một điều kiện kinh tế nhất định trở lên. Tất nhiên không phải nhà ai cũng giàu đến nỗi có vài quyển sách đủ mua cả cái nhà như trong BĐĐ). Tôi nghĩ những người từ những chi tiết lặt vặt này mà kết luận BĐ2 đạo của BĐ1, thì hoặc là họ không có gốc quê Bắc, hoặc chả bao giờ về quê, hoặc không mấy khi tiêu hóa văn hóa phẩm lấy bối cảnh thôn quê; và sự xôn xao của facebook giới về nghi án đạo văn vừa qua chỉ chứng tỏ văn hóa cổ truyền đã xa lạ với trí tưởng tượng hằng ngày của đa số người đọc như thế nào. Để so sánh, ta hãy tưởng tượng có một nhà văn Việt kiều xuất bản sách ở Mỹ, kể chuyện về quê ăn tết. Người đó đi chợ Hàng Lược mua hoa đào, đi chợ Đồng Xuân mua bánh chưng, lên Hàng Mã mua phong bao đỏ, rồi vòng về Hồ Gươm chụp ảnh áo dài. Đêm trừ tịch người ấy cúng con gà thắp hương rồi ra đường hái lộc. Một năm sau, có một blogger viết bài kể chuyện về Việt Nam ăn tết, cũng đi chợ Hàng Lược mua đào, đi chợ Đồng Xuân mua bánh chưng… Độc giả Mỹ vốn chẳng biết Hàng Lược khác gì Hàng Mã mà lại bị block covid không có điều kiện bay sang thẩm tra, tất sẽ cho rằng blogger này đạo của nhà văn kia, cho dù chẳng ai đạo ai, mà cũng chẳng phải do tiêu hóa quá nhiều chương trình xuân quê hương trên các kênh truyền hình phát cho kiều bào ta năm nào đài nào cũng y sì đúc năm nào đài nào. Nhưng chỉ là do họ dốt mà thôi.

Trong số các chi tiết đó, có hai chi tiết hình như được Hanhfm (xin lỗi vì tôi không đọc nhiều các bài “chứng minh đạo văn” khác nên chỉ dựa vào bài của anh/chị/em Hanhfm để nhận xét) dành cho sự chú ý đặc biệt, đấy là chi tiết “gốc gác Trung Quốc” và “đi tàu về quê”. Về chuyện gốc gác Trung Quốc thì, trước khi làn sóng “thoát Hán” trở lại một cách rực rỡ mấy chục năm gần đây, trước khi cái thuyết “loài người phát tích ở Việt Nam” đã chiếm lĩnh trí tưởng và tinh thần dân tộc của kha khá cụ ông cụ bà từ Nam chí Bắc, tôi nghĩ nhà ai không phải họ Nguyễn, Trần, Lê, Đinh cũng thầm lén giấu trong gia phả mình một ông tổ đồn đại phương Bắc nào đó, đặc biệt là đám văn chương thế nào mà chẳng lần giở thư tịch xưa kia tìm các văn nhân nho sĩ lừng danh mà fantasy may ra có giọt máu rơi nào của họ để lại cho mình đặng sau này kiếm cái Nobel. Về chuyện đi tàu, mặc dù câu trên Hanhfm vừa nói rằng nước Việt Nam có đường tàu trải dài như vậy thì chuyện đi tàu về quê là phổ biến, câu dưới lại băn khoăn sao năm 2000 rồi mà còn đi tàu? Như vậy đi tàu thì phải trước năm 2000 mới là hợp lý? Mới mấy tháng trước rời khỏi khu cách ly tôi cũng đi tàu qua đủ 3/4 chiều dài đất nước để về quê chồng, tất nhiên cũng đủ cả thắp hương trước mộ (rất nhiều mộ và năm bảy lượt thắp hương), cả chương trình giục con (tay đôi, tay ba, đại hội đồng liên hiệp chi họ), mỗi tội quê tôi nghèo nên không có nhà bảy gian trướng gấm giường ngà; suy luận như Hanhfm, có lẽ tôi là người từ thế kỷ 20 xuyên không về đây viết bài này, hoặc có lẽ tôi đã đạo “Bóng đè” trong một cử chỉ life imitating art đậm tình hữu ái giai cấp phụ nữ. Hai chi tiết này, khi đọc, nói thực tôi còn không nhận ra là có, vì đối với tôi nó cũng quá nghiễm nhiên và tầm thường không có gì nổi bật, hay là vì tôi chưa đủ bài Tàu/tàu chăng.

(Ngoài ra, Hanhfm còn cho biết một điểm giống nhau nữa là hai nữ tác giả cùng quê Thanh Hóa, mặc dù tôi không rõ điều này thì liên quan gì đến câu chuyện đạo văn: phụ nữ Thanh Hóa thì dồi dào dục tính hơn chăng? hay là cùng quê khiến người ta dễ đạo văn nhau hơn vì một sức hút đen tối khát thèm không cưỡng nổi nào đó?)

Trừ bối cảnh “dòng họ nhà chồng ở quê” (mà các chi tiết giống nhau chẳng qua là gắn liền với nó), thông điệp nữ quyền, và không khí kinh dị, mà như đã trình bài dài dòng ở trên, tôi nghĩ là một bộ threesome hợp lý và organic, yếu tố giống nhau nổi bật nữa mà tôi không thấy mọi người nhắc đến nhiều, nhưng có thể cũng lờ mờ nhận ra dù không ý thức hoặc gọi rõ tên của nó, đấy là tính gây sốc khi đặt cạnh nhau cái “thiêng” và cái “tục”. BĐ đã gây sóng gió ở tính chất sốc này khi cho cuộc sex với ma của nhân vật chính không phải với một chàng ma Edward Cullen ủy mị diễm tình, mà với lão trượng được tôn kính của dòng họ, diễn ra ngay trước bàn thờ. BĐĐ đem chiếc bồ đoàn, biểu tượng của thiền định và giác ngộ Phật giáo, thành một công cụ cho giao phối và sinh sản, gợi nhớ đến hình ảnh “nhục bồ đoàn” khét tiếng; và hình ảnh bà mẹ chồng sao thảo dược nhồi vào bồ đoàn để hơi nóng của nó ve vuốt tấm thân trinh nữ cũng thật hết sức giống với sự đồng lõa của mẹ chồng, em chồng hiến sinh cô dâu mới cho dục vọng của một truyền thống phụ hệ quá quắt và biến thái. Tôi nghĩ nếu BĐĐ có thực sự chịu ảnh hưởng của BĐ, thì nó thể hiện rõ nhất ở tiểu cảnh “đánh thức dục vọng” này.

Tuy nhiên, sự giống nhau ban đầu đó có tính đánh lừa, bởi từ đó về sau, dục vọng không xuất hiện trong BĐĐ; ít ra là dục vọng thân xác là thứ gần như đã trở thành signature của “Bóng đè”, của Đỗ Hoàng Diệu, và của cách người ta nhìn văn chương Đỗ Hoàng Diệu. Tấm bồ đoàn không trở thành một vế trong cặp sánh đôi quyền lực & tình dục, mà là một cực trong thế đối sánh bạo lực & chối từ bạo lực (tiếng tụng kinh gõ mõ mượn vẻ từ bi của bà mẹ chồng). Tình dục chỉ xuất hiện rất ít trong phần còn lại của câu chuyện, và dục vọng thì hoàn toàn không có, dù là với ông chồng chính thống hay với một series ma quỷ nhà chồng. Màu đỏ của tấm bồ đoàn rốt cuộc không phải là màu đỏ của sex, mà là màu đỏ của máu; cũng là bạo lực trên thân xác phụ nữ, nhưng ép đẻ đến chết và cưỡng hiếp hoan lạc vẫn khác nhau rất nhiều.

Tiếp tục với các chi tiết, tôi chuyển sang phần khác nhau giữa hai tác phẩm. Ta hãy bắt đầu với chi tiết trung tâm của “Bóng đè”, chi tiết bóng đè, mà theo Hanhfm, đã được đạo trong “Bồ đoàn đỏ” thành giấc mơ – cũng lặp đi lặp lại – về bà tổ. Phân tích giấc mơ của nhân vật chính trong BĐĐ, đặc biệt là phần cô định gọi chồng nhưng “tiếng gọi âm âm trong lồng ngực, không thoát ra được”, Hanhfm kết luận dù không dùng chữ đó, nhưng cô gái đang bị bà tổ đè.

Trên góc độ khoa học, một cơn ác mộng (nightmare) khiến người mơ giật mình tỉnh dậy, khác hẳn một cơn bóng đè (sleep paralysis) khiến người mơ cảm thấy bị tê liệt, với đặc trưng là cảm giác về khối nặng đè trên ngực mình; nhưng ta có thể tạm thời không đánh giá tác phẩm văn chương theo thang điểm của scifi, mặc dù hiện tượng bóng đè mà “Bóng đè” mô tả có đủ hết các đặc trưng này. Trên góc độ văn hóa/tâm linh/mê tín, hình tượng bóng đè = bị quỷ cưỡng hiếp, có thể kèm theo thụ thai hạt giống của quỷ hoặc không, đã là cả một truyền thống ở phương Tây; riêng về mặt đó, chi tiết trung tâm của “Bóng đè” cũng không phải sáng tạo gì quá ghê gớm, nhưng tất nhiên chúng ta không vì thế mà nói “Bóng đè” đi đạo của phương Tây một hình tượng cũng phổ biến như là Yêu Râu Xanh hay là ma cà rồng (cũng rất thường dùng như một ẩn dụ cho chuyện tính giao) vậy; thậm chí cũng khó có thể “chứng minh” Đỗ Hoàng Diệu có học được hình ảnh này thông qua tiếp xúc với văn hóa phương Tây, bởi đây hoàn toàn có thể là một phát triển organic từ hàm nghĩa của chữ “đè”. Tuy nhiên, người phụ nữ xuất hiện trong giấc mơ BĐĐ không xuất hiện với ý nghĩa (hoặc hành vi!) như vậy; nói rằng “tuy không hề có chữ bóng đè nhưng đây chính là hiện tượng bóng đè” hoàn toàn là cách đọc của Hanhfm, và cách đọc ấy, tôi ngờ là mâu thuẫn ngay từ định nghĩa với cách đọc của tôi dám nói là đại đa số người.

Trung tâm của giấc mơ về bà tổ trong BĐĐ không phải câu chuyện cưỡng hiếp (nếu một người con gái hiền thục lặng lẽ xuất hiện và nhìn ta thật lâu đã khiến ta cảm thấy mình bị cưỡng hiếp, thì hẳn ta phải là một cô lesbian rất lãnh cảm, hoặc rất khát tình); nếu muốn hiểu “đè” đơn thuần theo nghĩa áp bức, thì kết luận logic là người đàn bà kia là bà tổ của sự áp bức, của bà mẹ chồng đọc kinh Phật nhưng lại đổ lỗi cho nàng dâu hiện tại, nhưng rất tiếc logic này không vững vì bà tổ đẻ con xong đã chết queo rồi còn đâu. Nếu hiểu rằng bản thân cuộc chịu nạn của bà tổ là thứ áp bức nhân vật chính (chứ không phải chế độ phụ quyền đòi con trai lâu đời kia), thì đấy là một hành động đổ lỗi cho nạn nhân – lại là một nạn nhân par excellence – khó có thể ăn nhập được với thông điệp nữ quyền như vậy.

Vả lại, bà tổ trong giấc mơ BĐĐ không phải một hình tượng độc lập, mà là đại diện và cổ mẫu cho một vai trò được thực hiện bởi một chuỗi người nối tiếp – một chuỗi các nàng dâu – mà người mới nhất chính là nhân vật chính. Sự xuất hiện của bà tổ là một tín hiệu báo trước cho nhân vật chính về vai trò này của mình; và ánh mắt của bà tổ là thông điệp cho nhân vật chính về cách cư xử khả thể trong vai trò đó. Đây cũng là một mô típ không lấy gì làm mới, đơn cử như cô Tùy nữ trong truyện của idol tôi bắt được thông điệp của cô Tùy nữ tiền nhiệm trong góc tủ. Trong “Bóng đè” không có cái gì tương tự, cuộc phiêu lưu của cô gái nhân vật chính là cuộc phiêu lưu một mình đơn độc (nếu nói về cổ mẫu, thì bóng ma dâm dục có thể coi là một thứ cổ mẫu cho phụ quyền, nhưng cũng không dắt một đoàn bóng ma đến chỗ cô nàng). Nếu nói giấc mơ về bà tổ trong BĐĐ là đạo từ đâu đó, thì đấy là đạo của Kiều chứ không phải của “Bóng đè”; nhưng lại nữa, tôi nghĩ khó có thể gọi là đạo nếu cả hai cùng dùng những mô típ quá sức phổ biến và dễ nghĩ đến. Để bắt được tín hiệu về vai trò mới trao cho mình, cô gái tất nhiên có thể đọc được trong cổ thư, nhìn thấy trong tranh vẽ, hoặc nghe người khác kể lại (BĐĐ cũng đã thực sự dùng đến những cách giải quyết này), nhưng mặt giáp mặt với đối tượng, giống như Kiều với Đạm Tiên, sẽ cho phép một chấn động, một sự thấu cảm và một lời kêu gọi từ phía đối tượng khó có thể thực hiện được trong những phương án kia. Mô típ giấc mơ có sáo không? Có. Có lười biếng không? Kha khá. Có thể bỏ thời gian suy nghĩ để sáng tạo ra cách khác không? Tất nhiên. Có tốt hơn không? Hên xui. Đấy là một mô típ rất hiệu quả, chính vì hiệu quả mà nó tồn tại như một mô típ; ta không thể buộc tội một tác phẩm vì sử dụng một đồng tiền chung của vốn sáng tác của cả nhân loại được. (Đấy là chưa kể bóng đè trong “Bóng đè” có thể gọi là mơ không, vì lần nào cô gái cũng nhấn mạnh tôi đang thức, tôi đang rất tỉnh.)

Như thế, những “chi tiết giống nhau” giữa hai truyện có thể xếp vào ba loại: bối cảnh, mà theo tôi đấy là lựa chọn tình cờ và có thể hiểu được; các chi tiết nhằm xây dựng bối cảnh, mà theo tôi là gần như tất yếu và thực ra cũng không đóng vai trò quá quan trọng đối với câu chuyện, có bỏ đi cũng chẳng sao; và chi tiết bóng đè/giấc mơ, là chi tiết cốt tử đối với câu chuyện, thì theo tôi không thể gọi là giống nhau được.

Còn như Hanhfm nói rằng mọi chi tiết trong BĐ đều có trong BĐĐ, thì chắc là nói cho vui thôi phải không. BĐ dài hơn gấp đôi BĐĐ, lượng chi tiết rất phong phú, tính giống thực và tính thuyết phục đều rất cao, người đọc có thể nhập vào câu chuyện và nhân vật ngay lập tức, không chỉ vì ngôi kể chuyện thứ nhất. BĐ có sự miêu tả ở những cấp độ tế vi, của một con mắt nhìn sát và tinh tường. BĐĐ dường như ghép từ những câu văn sáo của người đang học viết. BĐ có thể đọc theo nhiều lớp, giải theo nhiều cách, ngồn ngộn, hỗn độn. BĐĐ giống như một chuyến tàu nhanh (xin lỗi!) đi thẳng một mạch đến ga cuối không có gì phức tạp, không có gì vướng víu, thắt nút rất chuẩn, mở nút vừa đủ, tròn trịa và hoàn hảo như một bài tập điểm 10 của một người đang học viết. Nhưng cũng không phải lỗi của BĐĐ. BĐĐ nhằm để làm một truyện ngắn vừa vặn và hoàn chỉnh như vậy, với một thông điệp rõ ràng như vậy. Một sự đầy tràn phong phú như của BĐ đưa vào câu chuyện này sẽ lạc chỗ chẳng khác gì cô hổ cái giàu nhục cảm của Đỗ Hoàng Diệu đặt vào… phòng khám xét nghiệm tinh dịch.

Rời khỏi cấp độ chi tiết cụ thể, tôi muốn xem ý nghĩa của hai câu chuyện giống và khác nhau ra sao. BĐĐ, như đã nói, có vẻ chỉ có một ý nghĩa. Có một mâu thuẫn cụ thể: xung khắc giữa cô dâu mới và gia đình nhà chồng trong chuyện sinh con trai. Có một hướng áp bức cụ thể: từ nhà chồng như một tập thể, với cô dâu mới như một cá nhân. Ta còn hầu như không thấy những biểu hiện tương tác cá nhân có tính tình cảm, âu yếm từ người chồng với cô vợ mới (trừ đêm tân hôn rất sáo mòn và cũng rất creepy như một thợ săn đang dỗ dành con mồi); anh ta tồn tại chủ yếu như một đại diện từ tập thể, cho cô biết các thông tin cơ bản về tập thể, truyền đạt lại cho cô ý chí của tập thể, cưỡng bách cô tuân theo sức mạnh của tập thể ấy, báo cáo lại tình hình cô cho tập thể. Đoạn kết, nhân vật chính đã vùng thoát khỏi vai nạn nhân, nắm lại quyền chủ động – với một cử chỉ rất có tính khoa học, như Sơn Ca đã lưu ý – và ta được hiểu ở chi tiết cô “bỏ đi” lúc cuối, thoát hẳn khỏi vòng chi phối của tập thể kia, có lẽ là mãi mãi. Nếu đây là một tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường phổ thông Việt Nam, thì nó đã vượt lên trên chủ nghĩa nhân đạo mà đạt đến chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, áp bức bị lật đổ, nhân dân đã vùng lên, khoa học đã chiến thắng hủ tục mê tín lạc hậu, quyền tự chủ của người phụ nữ đã chiến thắng hệ thống xã hội nam quyền, tất cả vỗ tay, màn hạ. Thật ra đây mới là điểm khiến cho truyện ngắn này từa tựa như một thứ được viết trước năm 2000; đoạn kết quá xuôi xắn, tính luận đề của tác phẩm quá rõ, cô gái quá mờ nhạt – ngoài cảm giác kinh sợ xâm lấn gần hết truyện và cảm giác giải phóng cuối truyện, ta không biết cảm xúc tâm sự của cô thế nào, thậm chí không biết cô có yêu chồng không, hay chỉ đóng tròn vai người vợ tận tụy với chồng, với những biểu hiện tình cảm cũng thuộc vào bổn phận; ta không biết đoạn kết truyện có để ngỏ khả năng nào cho một cuộc gặp lại, cãi cọ, làm hòa, đi đến mặc cả và thỏa thuận, như một mối quan hệ thật sự giữa hai cá nhân thật sự, vì nhân vật chính có vẻ cũng chỉ tương tác với chồng như với một vai trò xã hội (“người chồng”) mà thôi. Sự xuất hiện của tờ giấy xét nghiệm kia, sự đắc thắng của khoa học kia, thậm chí còn khiến ta suy nghĩ: nếu không có tờ giấy đó, cô gái cũng sẽ tra tấn dằn vặt mình vì không sinh được con cho nhà chồng chăng? Và một bí mật lớn như vậy, riêng tư như vậy cớ gì không trao đổi trước với người chồng là người có quyền được biết trước hết, mà phải mang về quăng vào mặt cả gia đình dòng họ như một cử chỉ “tao đã bảo mà” hết sức khiếm nhã và vô cảm? Cô gái cũng chỉ tương tác với chồng như với một đại diện của gia đình chồng mà thôi.

Tuy nhiên, như đã nói, đó chỉ là những câu hỏi mà một người đọc đòi hỏi cao hơn về tính giống thực có thể đặt ra. Như một tác phẩm luận đề, BĐĐ đã hoàn thành đủ các bước của cốt truyện, một cách tròn trịa, xứng đáng điểm 10.

Sang tới ý nghĩa của “Bóng đè”. Tới đây tôi phải thú nhận, “Bóng đè” đã khiến tôi khá lúng túng. Tôi không nhớ gì từ lần đọc đầu trừ việc đứng lên cãi nhau với giảng viên về nó “em không thích truyện này nhưng em bảo vệ quyền được sống của nó!” (nghĩ lại thấy mình oai như (pseudo) Voltaire), và nhớ mang máng rằng sau đó truyện ngắn đã được ca tụng vì tư tưởng chống Tàu. Sau khi đọc lại “Bóng đè” vài lần (đây thật sự có thể xếp vào một dạng rủi ro nghề nghiệp), tôi cũng lần ra được một vài sợi chủ đề để tìm hiểu. (Không phải fan của “Bóng đè”, tôi cũng không đi tìm hiểu các nghiên cứu sau này về nó, nên nếu ở đây có gì lặp lại các tiền bối cũng xin được quý vị lượng thứ.)

“Bóng đè” như một tác phẩm chống Trung Quốc? Hiển nhiên, điều này được nhấn mạnh rất sớm với mô tả của chồng nhân vật chính về một dòng dõi Trung Hoa “tay dài chạm gối”, và đặc tả với rất nhiều nhờm tởm trong trường đoạn cưỡng hiếp trung tâm “lão Tàu xa xăm bí ẩn”. Nhưng tôi giật mình khi đọc lại, thấy sớm hơn nữa, nhấn mạnh không kém, là những miêu tả hoàn toàn có thể gọi là “chống Việt Nam”. “Tổ tiên nhiều oan khuất” nhà chồng cô gái được kể ra một cô gái hận tình tự trầm, hai ông cố trẻ bỏ nhà làm thầy phù thủy, hai ông liệt sĩ Điện Biên và đường 9 Nam Lào, một ông nội chết trong cải cách ruộng đất, một ông bố chồng chết vào “ngày trồng”. Đó là những ngôi mộ thật, những người thật được thờ trên bàn thờ nhà chồng cô gái. Tổ tiên Trung Hoa kia hoàn toàn là một fantasy của ông chồng, một fantasy mà thoạt đầu chính cô phán “ngây thơ” nhưng rồi những miêu tả sau đó thì nói chuyện như là mặc nhận. Sau cuộc cưỡng hiếp số 1 của bóng ma không hình hài, cô gái thách thức bàn thờ để thấy “hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một đường 9 Nam Lào … những người đàn ông dòng dõi đế vương chết rồi vẫn đội lên đầu xứ sở Trung Hoa”. Cô tiếp tục chạy ra bãi tha ma để thách thức “từng oan hồn liệt sĩ xéo sắc, tay chạm gối… âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ”. Cô tiếp tục đổ tội cho chồng “bán [cô] cho những bài vị liệt sĩ khát đói”. Vậy tại sao trong cuộc cưỡng hiếp trung tâm cô lại nhìn thấy “lão già Trung Quốc” “trăm đời dòng dõi đế vương quần thảo”, mà không phải các liệt sĩ Điện Biên Nam Lào quần thảo, hai ông thầy phù thủy chết mất xác nơi xa quần thảo, ông nội chết trên tổ kiến lửa quần thảo, những người có thực, có bằng chứng, và sờ sờ ra đấy? Hay đấy là lựa chọn dù có thể không chủ ý của cô? Bị dòng dõi đế vương hãm hiếp thì vẫn sang trọng hơn và văn chương hơn bị ông lính Việt cộng hay ông địa chủ (hoặc bị tố địa chủ) hết thời hay ông thầy pháp lang thang hãm hiếp? Đến cuối truyện, cô lại nói về “con tôi sẽ tiếp nối truyền thống Trung Quốc … sẽ tiếp tục banh dạng trên phản cho các liệt sĩ thỏa mãn. … Con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng cho những tấm huân chương.” Đọc lại vào năm 2020, tôi không thể hiểu có logic gì có thể bỏ chung một rọ truyền thống đế vương phong kiến Trung Hoa và liệt sĩ cộng sản Việt Nam, nếu không được mặt trời chân lý chói qua tim bởi Trạch Nam, một người đã can đảm hơn tôi đã đi đọc và viết về cuốn sách mới của Đỗ Hoàng Diệu: “chuẩn mực đạo đức, truyền thống gia đình, lòng yêu nước, sự sùng đạo v.v… mà thực chất chỉ là các biến dị quái đản từ Nho giáo và suy rộng ra là một thứ Văn hóa Trung Hoa nửa mùa và khuyết tật.” (Nói rằng tôi hiểu được cái logic đó, không có nghĩa là tôi hiểu được cái logic đó.)

“Bồ đoàn đỏ” trái lại, không có không khí chống Tàu đậm nét, dù ông tổ Trung Hoa của nhà chồng là xịn chứ không phải tưởng tượng ra; quá trình di dân của ông tổ được kể lại như một sự kiện, có ly kỳ nhưng không đến nỗi quái lạ (nói như lời cô vợ trong BĐ: “dòng họ nào ở miền Bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?”), và cũng không gắn liền với những tính ngữ tiêu cực “tay vượn”, “đanh ác”, “xéo sắc”, “hãnh tiến”, “đen tối”… như Đỗ Hoàng Diệu. Bạo lực đối với phụ nữ và mối kiêu hãnh về dòng tộc được nhấn mạnh trong câu chuyện, nhưng ấn tượng giống như một đặc tính thuộc về giai cấp (điền sản lớn nhất vùng, mua về cô gái nhà bần hàn) hơn là dân tộc tính; dù sao ý nghĩa câu chuyện cũng hoàn toàn không thay đổi nếu bỏ đi chi tiết di dân kia, còn BĐ, giá sử cho ông tổ là một giọt máu rơi của Đặng Mậu Lân chẳng hạn, bộ mặt câu chuyện sẽ thay đổi hẳn.

Dù chống đế vương Trung Quốc hay chống liệt sĩ Việt Nam, cũng không thể phủ nhận “Bóng đè” chống nam quyền, đề cao tư tưởng nữ quyền. Nhưng lại nữa, ở đây, tôi nghĩ sẽ cần rất nhiều tường giải xem rốt cuộc nữ quyền của “Bóng đè” thuộc về tiểu loại nào; nói một cách khác, đàn áp phụ nữ mà BĐ đề cập là hình thức đàn áp nào. Nó không đơn giản là ép có con – vì cô gái không ghét việc có con, và sự thúc ép có con trong truyện chẳng qua là một hai câu nói ẩn ý, hiển nhiên còn không thúc ép bằng quyết định 588. Nó cũng không đơn giản là sự chiếm hữu, sự vật hóa cơ thể người phụ nữ.

Bởi vì nhân vật chính trong BĐ làm chủ cơ thể mình và ham muốn tình dục của mình ở một mức độ hiếm thấy trong văn học Việt Nam tại thời điểm nó ra đời và thậm chí cả bây giờ. Cơ thể gần như là lăng kính duy nhất cô nhìn nhận mình: đọc xong sách ta không biết cô làm nghề gì, bao nhiêu tuổi, có sở thích gì, ta biết về cô còn ít hơn cô kỹ sư trong BĐĐ chỉ ngắn bằng một nửa; nhưng ta lại biết tường tận về cơ thể cô từ bàn tay cho đến chiếc nhọt ở gần phần kín và các loại dịch tiết cơ thể. Nhục cảm là cách cô định nghĩa mình, chủ động định nghĩa, chứ không phải như cô gái trong BĐĐ bị người khác đặt vào định nghĩa làm sẵn theo ý họ. Cô ngắm nghía và sờ nắn mình bằng từ ngữ: “săn chắc, mượt mà, vun đầy, rúc còi, non tơ, hứng háo, tươi tốt, khát thèm”. Trong mối quan hệ tình cảm và tình dục với chồng – được miêu tả rất cụ thể, thuyết phục, giống thật, vượt hơn hẳn mối quan hệ công thức trong BĐĐ – cô gái mới là người át vía anh chồng, với những “hực lên”, “vồ vập”, “vung vấp”, bên cạnh anh chồng “phúng phính”, “kinh khiếp”, “tội nghiệp”, “lấm lét”, “giãy lên”. (Đặt bên cạnh, BĐĐ với chuyện sex được đề cập đến ở mức tối thiểu bằng ngôn ngữ không thể sáo mòn hơn “người con gái vừa trở thành đàn bà”, đọc giống như sản phẩm học viết của một cô bé chỉ biết về sex qua sách vở.) Quan hệ với những người đàn bà của gia đình chồng thì ngược lại, không có những tầng lớp phức tạp vừa áp bức, vừa đồng cảm, vừa có chút che chở như người mẹ chồng trong BĐĐ; ở BĐ, người mẹ chồng và em chồng có lờ mờ thể hiện mình là đại diện của quyền lực dòng họ, nhưng chủ yếu, họ hiện ra trong sự ganh ghét – hoặc ghen tuông – của những con cái cùng cạnh tranh một vài con đực, đặc biệt trong cái liếc xéo của bà mẹ chồng sau khi bát hương bốc lửa, cái thù địch “của loài rắn” sau cuộc giao hoan của cô con dâu với linh hồn các đấng tổ tiên (cũng đã từng làm điều tương tự với mình?).

Nhân thể xin nói, người chồng trở về quê biến thành một người khác hẳn so với khi ở thành phố là một chi tiết đắt và được miêu tả thú vị trong “Bóng đè” (và cũng có thể cho là ảnh hưởng đến BĐĐ, nếu không phải vì than ôi, đấy cũng là một hiện tượng quá phổ biến trong cuộc sống). Tuy nhiên coi anh chồng cũng là một đại diện của quyền lực dòng họ (như trong BĐĐ), “hận anh” vì đã mang mình về hiến cho dòng họ, rồi kết luận bóng ma trước bàn thờ (chỉ “giông giống bố chồng” nhưng lại) “sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ” thì khí lố. Tất cả những gì ta thấy anh làm là sợ hãi, nơm nớp, và cam chịu. Có thể chê trách anh đồng lõa vì cam chịu; nhưng thực tình, đọc kỹ, tôi chỉ thấy cô gái bực tức anh chồng không còn ngoan ngoãn tuân phục mình mà ngoan ngoãn tuân phục sức mạnh lớn hơn của dòng họ, mà thôi.

Biểu tượng trung tâm của nam quyền trong “Bóng đè” là (những) cuộc cưỡng hiếp của (những?) cái bóng trước bàn thờ. Viết đến đoạn này tôi rất cảnh giác, vì quá dễ dàng rơi vào cái bẫy lập luận “nếu có orgasm thì không gọi là rape”. Nhưng về mặt này, nhân vật nữ của Đỗ Hoàng Diệu rất thành thực, có lẽ thành thực hơn nhiều độc giả của chị. Ngay từ những cảnh sex đầu tiên, cô đã ngửa bài về việc chồng cô chẳng qua là đồ chơi tình dục cho mình: “Tôi muốn đã cơn khát thèm từ buổi trưa ấy, một buổi trưa nắng bình thường như bất kỳ một ngày hè nào nhưng với tôi là bỏng rát, là bước ngoặt. Thụ nào biết. Anh bị tôi co rút lôi đi.”

(lạc đề năm phút: đi tìm giữa trùng trùng mê lộ chi tiết của truyện ngắn, chúng ta có một chiếc bóng nguyên thủy vào một “buổi trưa hè”, “tuổi thơ”, “đã cướp mất cuộc đời con gái”, khi mới biết mặc “su chiêng”. Đó là “số phận”, đã gây nên “buổi chiều” ở “bảo tàng Dân tộc” với một chiếc bóng có thể thuộc về anh chồng tương lai, hoặc không. Những chiếc bóng tổ tiên bên bàn thờ giỏi lắm cũng chỉ có thể gọi là sự thành tựu một lời hẹn hò của bóng tối đã đánh dấu cô gái từ mười mấy? năm về trước. Tư tưởng bài Trung trong biểu tượng bóng ma “lão Tàu” thật sự không thể hòa hợp với chiếc bóng cổ mẫu vô nguyên này.)

Ta không biết chiếc bóng nguyên thủy đã làm gì cô gái trong buổi trưa bí ẩn kia, chỉ biết rằng ngay từ những lần đầu tiên chiếc bóng xuất hiện trong văn bản, nó đã đi kèm theo sự pha trộn giữa “khát thèm” và “trốn”. “Nỗi sợ hãi khôn cùng, sự ngừng đập trái tim. Và cả khát thèm, chờ trông suốt những năm thiếu nữ khi chúng không còn quay lại.” Đêm đầu tiên ngủ trên tấm phản trước bàn thờ (theo chính cô gợi ý!), cuộc quấy nhiễu đầu tiên pha trộn giữa “khát cháy” và “sợ”. Cuộc cưỡng hiếp đầu tiên, cô gái kinh sợ, nhưng bên trong sự kinh sợ đó mắc lại câu hỏi “phải chăng tôi đồng lõa, phải chăng tôi đã ưỡn người lên chờ đón”, và cô phản ứng lại bằng việc chạy ra múa cùng “đôi bầu vú tự do khiêu khích” bãi tha ma. Trở về sau cuộc cưỡng hiếp của ma, cô gái cảm thấy chồng mình nhàm chán, trong khi dục vọng trong mình ngày một dâng cao, và là một dục vọng nhắm trực tiếp vào “tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên, huân chương Đường 9 Nam Lào”. Lần về quê tiếp theo, thỏa lòng mong ước của cô, “lão già Trung Quốc” xuất hiện, “vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường”. Trong cuộc cưỡng hiếp trung tâm, được Đỗ Hoàng Diệu mô tả tỉ mỉ với một khoái thú trìu mến như một cậu bé trung học lần đầu viết truyện porn, vẫn còn có nỗi sợ, nhưng đã nhấn mạnh vào “cơn khát” của “đứa con dâu đĩ thõa đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ”. Sau đó, ở cô chỉ còn có “bồn chồn” “háo hức”. Cuộc cưỡng hiếp cuối cùng không còn có thể gọi là cưỡng hiếp, đấy là giao hoan; người đồng lõa không còn là chồng, mà là bản thân cô gái; tự cô cũng nhận ra việc đó, và nhận ra việc mình đổ tội cho cái bóng đã “tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách” chẳng qua cũng chỉ là thứ logic “anh rất tốt nhưng em rất tiếc, thằng ấy rất vâm còn anh rất điếc” mà thôi.

Hành trình tình dục của cô gái, như vậy, là hành trình đi từ phủ nhận bóng tối, trốn chạy bóng tối, cho đến chấp nhận bóng tối, chấp nhận phần bóng tối trong mình [không chơi chữ]. Thông điệp nữ quyền ở đây nếu có, sẽ là sự thừa nhận và làm chủ bản năng tính dục của mình, thỏa mãn “khát thèm vực thẳm” trong mình, nâng niu và khoái trá ham muốn ấy, thỏa thuê mô tả quá trình ngụp lặn trong ham muốn ấy. Ở điểm này, “Bóng đè” trái ngược hẳn với lối văn nước cất của BĐĐ. Nghe nói tác giả An Thư thừa nhận có đọc “Bóng đè” nhưng không đọc hết; tôi có thể hiểu vì sao.

Đấy là ta còn chưa xét đến tính khả tín của người kể chuyện trong “Bóng đè”: tất cả câu chuyện được tường thuật qua góc nhìn của cô, không có sự xác nhận nào từ người khác: “mọi người nói tôi bị bóng đè, chẳng có gì đáng sợ”; người chồng, người mẹ, người em thờ ơ là muốn chơi trò “hiệu ứng đèn ga” đối với cô hay thật sự tất cả chỉ là do cô tưởng tượng ra (hoặc có vấn đề về thần kinh)? “Bóng đè” trên bình diện này là một chiếc rape fantasy khổng lồ được cô gái duy trì từ năm này qua năm khác, vì hiện thực quá tầm thường nhàm tẻ không đáp ứng được tầm cỡ sự “hứng háo”, “khát thèm” của cô. Tôi ước gì mình có đủ can đảm đọc thêm để nói liệu đây có phải một lời miêu tả thích hợp đối với toàn bộ văn nghiệp của Đỗ Hoàng Diệu.

Thế rồi đến cuối truyện, một chủ đề khác lại nổi lên, hay nói đúng hơn là được gút lại, bởi đây là chủ đề được cài cắm kỹ lưỡng nhất và được gợi nhắc thường xuyên nhất ngay từ câu đầu tiên, mặc dù không phải lúc nào cũng rành mạch và thống nhất. Đó là sự đối lập, giằng co giữa bàn tay tiên có những ngón dài như một tiếng chiêng, với thân thể có bộ ngực núng nẩy, rúc còi, hứng háo, khát thèm… của cô. Bàn tay “thiếu nữ” được miêu tả đẹp và thoát tục như những nhân vật nữ của Tạ Duy Anh dường như là biểu tượng của tình yêu đối với chồng (cho dù cũng chính bàn tay đó có khi lại dùng để thuần hóa anh chồng, khiến vẻ siêu thoát có phần lấm bẩn). Thân thể “đàn bà” đương nhiên bị hút về sức mạnh của dục vọng bóng tối, của những đàn ông có cánh tay vượn. Bàn tay cố gắng giải thoát cô gái lần này qua lần khác khỏi sức hút ấy, và đến cuối, đã nỗ lực trong cử chỉ quyết liệt tuyệt vọng cuối cùng của tình yêu, tìm cách giải phóng người yêu khỏi cuộc hôn nhân đã thành hoen ố. Nhưng lá bài tẩy của bàn tay cũng thất bại, thân thể đã chiến thắng, hoặc đúng hơn là sức mê hoặc của cái bóng đã chiến thắng. Bàn tay vội vàng bào chữa bằng cách chuyển tình yêu ấy thành tình mẹ, “một người mẹ yêu thương di sản của tăm tối” – một cái kết sáo sến xứng đáng với “Cánh đồng bất tận”. Thân thể đã nộp cho bóng tối, nhưng tâm hồn mãi mãi còn lại ở góc thân thể ấy, chữ trinh còn một chút này.

Thú thực, cái kết này làm tôi khá thất vọng. Tôi có thể hiểu được sự giằng co giữa tâm hồn và thể xác (dù tại sao tâm hồn cứ phải trong sáng còn phần dâm dục dành hết cho thể xác thì tôi không hiểu), để cuối cùng chiến thắng thuộc về phần thể xác, hoặc có thể mãi mãi giằng co không ngả hẳn về bên nào. Nhưng phần thể xác ấy cũng thuộc về cô, không phải do một thế lực bên ngoài nào áp đặt lên cô, khi chiếc bóng nguyên thủy viếng thăm cô đã được đón tiếp bởi “da thịt non tơ hứng háo”. Cô là người cuối cùng đã tự nguyện quay đầu về dưới trướng – và dưới sức nặng của những cái bóng, nhưng cô lại phủ nhận phần ấy của mình. Người con gái bạo liệt, nổi loạn, tự do, khiêu khích ở phần đầu, tôi không thích không mê gì, nhưng còn có một chút hâm mộ; người con gái ấy rụt vòi về ẩn náu dưới chữ trinh khiên cưỡng và giả tạo ở phần cuối, miêu tả lựa chọn chủ động của mình như một sự cưỡng bức và chọn nhìn mình như một nạn nhân, làm cho tôi tự hỏi cuối cùng thì có thể gọi đây là một tác phẩm nữ quyền chút nào hay không.

Suy cho cùng, đi qua những chủ đề phức tạp và quấn quýt trong “Bóng đè” – người nữ vs. nam quyền, cô gái bản địa (?) vs. “Trung Hoa”, trốn chạy cái bóng vs. khát thèm cái bóng, thân thể dục vọng vs. tâm hồn “không trọng lượng” – điều cuối cùng còn lại là một sự quy thuận; quy thuận Trung Hoa, quy thuận nam quyền, quy thuận cái bóng, quy thuận dục vọng, và quy thuận vị trí nạn nhân mà xã hội dường như muốn xếp sắp cho mình; quy thuận cả cách nhìn thế giới nhuốm màu sắc mê tín với những thế lực siêu nhiên – dù là cái bóng bên trong hay cái bóng bên ngoài – mà con người mãi mãi bất lực. Chính đây rốt cuộc là điểm khác nhau lớn nhất giữa “Bóng đè” và “Bồ đoàn đỏ”. “Bồ đoàn đỏ”, bất chấp sự mỏng manh cũ kỹ của nó, bất chấp những non yếu về cấu trúc hay chi tiết đây đó, rốt cuộc đã vượt hẳn lên trong cái kết xuôi xắn và dễ đoán; nó không chỉ trả nhân vật về với tự do, mà còn trả cả người đọc về với chủ nghĩa hiện thực, tỉnh khỏi bối cảnh “truyện ma” lừa mị ban đầu; trái với Hanhfm cho rằng cô gái lén chồng đi xét nghiệm tinh dịch là một điều không tưởng về mặt logistic (tất nhiên tác giả đã không bỏ công nghiên cứu sâu về điểm đó, nhưng lại nữa, thiết tưởng ta không nên dùng thước đo scifi cho một câu chuyện kể về nằm mơ thấy ma), tôi thấy chi tiết đó đủ tầm thường để lật đổ toàn bộ không khí ma mị, đủ đơn giản để tăng cường tính giống thực của câu chuyện, nhưng lại cũng đủ khó khăn, thậm chí cách mạng để gợi lên sự đồng cảm nơi các chị em nào đã trải qua hoàn cảnh giống như cô (và chắc không phải hiếm, ở Việt Nam ta, thậm chí ở năm 2020). Hiển nhiên, một ông chồng (và nhà chồng!) tỏ vẻ thù địch trước dù chỉ gợi ý rằng “tính đàn ông” của ông ta có chút gì khiếm khuyết hẳn phải phổ biến hơn một ông chồng ngày ngày mang ta về dâng cho những bóng ma tổ tiên nhà ông ta. “Bóng đè” là một tác phẩm độc nhất vô nhị về một nhân vật sáng tạo và cá thể hóa cao độ; “Bồ đoàn đỏ” là một tác phẩm bình thường nhưng có sức lan tỏa rộng lớn, như một câu chuyện cổ tích ai cũng có thể soi vào, với một kết thúc có hậu mà ai cũng có thể hy vọng / noi theo – ở dung lượng ấy như thế có thể coi là đạt.

Như thế, “Bóng đè” và “Bồ đoàn đỏ” dù xuất phát ở một điều kiện hao hao nhau và đi bằng những phương tiện từa tựa nhau (tất nhiên một bên là xe delux nhập nguyên đai nguyên kiện còn một bên là xe lắp ráp mua ở siêu thị), nhưng rất mau chóng đã rẽ sang các ngả đường khác nhau (một bên đi thẳng một mạch, bên kia uốn lượn vài vòng mải mê ngắm đồng quê tự do khiêu khích và hứng háo) để tới những cái đích khác nhau. Cảm giác quen quen mà tôi có khi bắt đầu đọc “Bồ đoàn đỏ” đã dần phai đi trong quá trình đọc và bị cuốn vào câu chuyện, để rồi đến cái kết tôi chưng hửng mà kêu lên trong đầu: “đạo văn ở đâu? đạo văn đâu? phí một cuộc săn rồi chẳng tìm ra gì cả?” <– Đây là ý nghĩ của tôi khi lần đầu đọc xong truyện ngắn đó, và ý nghĩ ấy vẫn đứng vững khi kết thúc bài viết dài dòng và lan man này.

*

Trên đây là nỗ lực của tôi để phân tách những ấn tượng lờ mờ trong đầu khi đọc lần lượt hai truyện, rồi sau đó đọc hai bài viết liên quan và rồi đọc lại kỹ lưỡng hơn hai truyện đó trong một cảm hứng tự đày đọa bản thân. Nó không nhằm thuyết phục ai cả, cũng không nhằm thuyết phục chính mình; nó có thể giống với cảm nhận của quý vị hoặc không; tất nhiên tôi có thể sai, nhưng đó là ấn tượng của tôi cho đến thời điểm này, và tôi nghĩ nó đã đủ dùng cho tôi; tôi không nghĩ tôi sẽ đọc lại thêm để xác minh thêm lần nữa, tôi đã đủ quota văn Đỗ Hoàng Diệu đến cuối đời.

Tôi viết bài này trong một cảm giác rất khó chịu khi nghĩ về toàn bộ chuyện này, đã bị thổi phồng lên quá tầm cỡ của nó. Đi săn con đạo văn là chuyện vốn chẳng có gì vui, vì nó ngụ ý một sự bất tài kém cỏi từ chính những người lẽ ra phải đóng vai trò gác cửa khu vườn văn chương của chúng ta (dù từ ngày làm Zzz, chúng tôi cũng hiểu việc đó tưởng dễ mà lại khó đến mức nào), nhưng nó có thể đem lại một cảm giác “chiến binh công lý” nhất định trong trường hợp a- kẻ đạo văn đã nhờ một hành vi lừa dối mà thu được danh tiếng và lợi lộc, và/hoặc b- người sáng tạo gốc bị tước đi ghi nhận xứng đáng và chôn vùi trong lãng quên. Trong trường hợp cụ thể này, “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu đã nghiễm nhiên là một tượng đài lừng lững trong lòng một số người trên văn đàn, còn truyện ngắn khép nép ở góc Văn nghệ quân đội kia chắc cũng chẳng mấy ai đọc đến nếu không nhờ spotlight chiếu rọi mấy tuần nay. Nếu đây là một vụ đạo văn sờ sờ, thiết tưởng cũng chỉ cần vài lời chỉ ra, một cử chỉ gỡ bài là đủ. Lớn chuyện như vậy chính là vì như Hanhfm nói, “Thoáng qua, nhiều độc giả dễ dàng cho rằng “Bồ đoàn đỏ” không hề đạo “Bóng đè”” (mặc dù như tôi thấy dường như phần lớn người mới đọc thoáng qua, hoặc chưa đọc, đã la lên “đạo” thì đúng hơn), và nó khác nhau đủ để “Bồ đoàn đỏ” đứng vững như một tác phẩm độc lập, kể cả khi phân tích kỹ. Tất nhiên, nếu là phân tích với một đầu óc rộng mở thực sự, chứ không phải với tiền đề mà thực chất là kết luận như Hanhfm đã mở bài: “Để đánh giá là đạo văn hay không đạo văn không thể dựa vào cảm tính mà rất cần có những phân tích, đánh giá mang tính khoa học, kết luận phải thật chính xác, để bảo vệ cả hai bên và cả sáng tạo nghệ thuật. Vậy hãy phân tích xem: Bồ Đoàn Đỏ đã bị Bóng Đè như thế nào?”. Tôi cũng hy vọng không có nhiều người tin vào những thuyết âm mưu lố bịch như là “hai tác phẩm giống nhau nhưng toàn bộ phần này thì khác nhau, suy ra tác giả đã cố tình viết lại để che mắt rằng mình đạo”. Còn nhớ hồi đầu năm nay cũng rùm beng một vụ “đạo” dịch, khi cả hai tình cờ cùng dịch một truyện ngắn và người dịch trước đã khẳng định như đinh đóng cột: “tôi đã rà rất kỹ và thấy hai bản dịch khác nhau đến 99%, chứng tỏ X đã rất khổ công che giấu việc mình ăn cắp bản dịch của tôi, thật gớm ghê thay” (tôi không đùa, và người đó cũng không đùa, ai có từng qua đường lần đó thì hẳn còn nhớ).

An Thư có thể viết tốt hơn không? Biên tập viên có thể rèn giũa kỹ hơn không? Có thể đòi hỏi những sáng tạo hơn nữa, hoặc chiều sâu hơn nữa, hoặc cá nhân hóa hơn nữa không? Hiển nhiên là có chứ. Nhưng không thể đòi hỏi một người viết mới phải ngay lập tức viết ra những truyện ngắn đạt giải Nobel. Đối với An Thư, tôi nghĩ, truyện ngắn này chỉ là một cái mốc trong quá trình tập sáng tác, như một bài tập đủ đạt điểm 10. Còn với Đỗ Hoàng Diệu, “Bóng đè” có lẽ là một thương hiệu lừng lẫy mà cả chị và các fan đều rất tự hào và bảo vệ, nhưng chị không có độc quyền đối với “nhà chồng”, hay “giấc mơ”, hay “gốc Tàu”, chẳng kém gì Donald Trump không có độc quyền với câu “anh bị đuổi việc!” vậy.

Dĩ nhiên, tôi nhắc lại, không loại trừ khả năng bối cảnh hoặc không khí truyện “Bồ đoàn đỏ” có chịu ảnh hưởng nhất định từ “Bóng đè” (một cách có ý thức, hoặc vô thức, như trường hợp Shin Kyung Sook bị tố đạo (vài câu) văn 5 năm trước (không phải lần bà bị tố đạo văn (cốt truyện và tuyến nhân vật) 3 năm trước, mà tòa án đã xử thắng cho bà)), nhưng như tôi đã chỉ ra ở đầu bài viết này, có thể còn rất nhiều nguồn tiềm tàng khác, và cũng hoàn toàn có thể đạt tới một cách tự nhiên. Đạo văn là một lời kết tội rất nghiêm trọng, nhất là lại đi kèm với những “tình tiết tăng nặng” được ném ra một cách khinh suất như là “tôi nghĩ đã có sự cố tình xóa dấu vết để che mắt”. Đặc biệt là khi An Thư có vẻ là một cây bút trẻ (ít nhất về tuổi nghề). Trẻ và hứa hẹn (dù tác phẩm cụ thể này còn nhiều non yếu), và có thể bị giết chết bởi một sự nhẫn tâm vô tâm của rất nhiều người dường như cầm trịch dư luận trong văn đàn. Dù sao đi nữa, nếu cần phải chọn, trong ván này tôi đặt cửa An Thư. Hy vọng sẽ còn được đọc nhiều tác phẩm của tác giả này trong tương lai, sáng tạo hơn, độc nhất hơn. Và tốt nhất là đừng bao giờ có từ “hứng háo”.

Nguyễn An Lý

Tranh minh họa: “Storm in a teacup” của Martin Stauce

 

Chấm sao chút:

Đã có 10 người chấm, trung bình 3.5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Website | Các bài viết khác

không biết viết ngắn

One Comment on “BĐ hay BĐĐ – Đi săn con đạo văn”

  1. Tại sao An Lý lại cho ngoặc kép “̂ ℎ̃ đ̃ ́ ̛̣ ̂́ ̀ℎ ́ ̂́ ̂́ đ̂̉ ℎ ̆́”? Đây hoàn toàn là quan điểm của An Lý không phải của ai khác. Tuy nhiên qua những luận điểm đã phân tích trong bài này thì có thể thấy An Lý “đ̃ ́ ̛̣ ̂́ ̀ℎ ́ ̂́ ̂́ đ̂̉ ℎ ̆́”. Bài viết có nhiều suy diễn, ngụy biện làm bóp méo quan điểm của Hanhfm.

    Mặc dù ngay từ đầu An Lý đã đưa ra quan điểm: “̂ ℎ̂ ℎ̃ ́ ℎ̂̉ ̣ đ̂ ̀ đ̣ ̆.” nhưng trong phần kết của bài viết, An Lý đã nghĩ tới khả năng “̂̀ đ̀ đ̉” ́ ℎ̣ ̉ℎ ℎ̛̛̉ ℎ̂́ đ̣ℎ ̛̀ “́ đ̀” và so sánh “ℎ̛ ̛̛̀ ℎ̛̣ ℎ ̣ ̂́ đ̣ (̀ ̂) ̆ 5 ̆ ̛̛́”. Đó là sự kiện năm 2015 Shin Kyung Sook đã phải thừa nhận và lên tiếng xin lỗi vì đạo vài câu văn của cố văn sĩ Nhật Yukio Mishima. Vậy so sánh này của An Lý rõ ràng đang ý nói “Bồ đoàn đỏ” đạo “Bóng đè”, nhưng An Lý vẫn cho rằng đây không phải là đạo văn. Điều này cho thấy thái độ quanh co, cả nể không thẳng nhắn của An Lý. ( xem thêm tại https://zingnews.vn/tac-gia-han-quoc-noi-tieng-thua-nhan-dao-van-post552427.html )

    An Lý cũng dẫn chứng thêm vụ bị tố đạo văn vào năm 2018, Tòa án Hàn Quốc đã xét xử vụ tiểu thuyết nổi tiếng “Hãy chăm sóc mẹ” của Shin Kyung Sook giống cốt truyện một cô gái có mẹ mắc bệnh Alzheimer trong bài luận của Oh Gil Soon. Tòa án đã phán quyết: sự khác biệt giữa hai câu chuyện lớn hơn sự tương đồng của chúng về cốt truyện, cũng như các nhân vật và bối cảnh và đã xử thắng cho Shin Kyung Sook. (Xem thêm tại https://en.yna.co.kr/view/AEN20181206009300315 )

    Hãy xem lại bài phân tích “Bồ đoàn đỏ đã đạo Bóng đè như thế nào” của Hanhfm để thấy sự tương đồng lớn hơn sự khác biệt. Vì vậy, Shin Kyung Sook được xử trắng án nhưng An Thư chưa chắc.

    An Lý bênh vực An Thư, cho một cây bút trẻ. Nhưng xin nhắc lại trong bài viết của Hanhfm đã dẫn chứng Đỗ Hoàng Diệu khi sáng tác “Bóng đè” cũng như An Thư khi sáng tác “Bồ đoàn đỏ” đều là ở giai đoạn cây bút trẻ, mới bước vào nghiệp văn. Vì vậy việc An Lý bảo vệ An Thư là rất cảm tính cá nhân. Bởi vấn đề cần bảo vệ ở đây không phải là An Thư hay Đỗ Hoàng Diệu mà là tác quyền. Nếu An Lý thực sự muốn bảo vệ “Bồ đoàn đỏ” thì hãy phân tích một cách độc lập để chứng minh các chi tiết trong “Bồ đoàn đỏ” giống “Bóng đè” không phải là đạo văn. Còn nếu chọn cách phản biện Hanhfm thì An Lý hãy đi thẳng vào trọng tâm, thay vì viết lan man, vòng vo, có nhiều dẫn chứng không liên quan, phân tích không đầy đủ và có hành động cố tình làm méo mó nhận định của Hanhfm.

    Vấn đề đạo văn không ai muốn mắc phải, cũng không ai muốn tố cáo người khác là đạo văn cả, nhưng không phải vì thế mà coi nhẹ việc bảo vệ tác quyền. Vì vậy, hãy thắng thắn loại trừ những hành động vi phạm bản quyền, để hoạt động sáng tác cần cẩn trọng hơn và không có thêm những trường hợp vô tình hoặc cố tình vướng vào đạo văn như “Bồ đoàn đỏ” đạo “Bóng đè”.

Bạn nghĩ sao?