Tim Parks, Giải Nobel Văn chương bị sao thế?

Thời gian đọc: 6 phút

Vậy là Tomas Tranströmer – nhà thơ người Thụy Điển đã đoạt giải thưởng Nobel Văn chương. Tôi chưa đọc Tranströmer ngoài một vài bài thơ dài sẵn có trên mạng, nhưng vẫn cảm thấy khá chắc rằng đây là một quyết định tốt về mọi mặt. Trước hết là với hội đồng giám khảo Nobel. Để tôi giải thích tại sao.

Họ gồm mười tám người, thành viên của một tổ chức mang tên Viện Hàn lâm Thụy Điển, nơi được giao nhiệm vụ trao giải Nobel từ cuối thế kỷ XIX. Tại thời điểm đó, có hai thành viên nghĩ rằng tiếp nhận công việc này là một sai lầm. Hồi năm 1786, tôn chỉ thành lập của Viện là để thúc đẩy “sự thuần khiết, sức mạnh và sự trác tuyệt của tiếng Thụy Điển.” Liệu điều này có tương thích với việc lựa chọn văn nghiệp xuất sắc nhất mang “chiều hướng lý tưởng” từ bất kỳ nơi nào trên thế giới hay không?

Mọi thành viên của Viện đều là người Thụy Điển và hầu hết họ làm giáo sư toàn thời gian tại các trường đại học Thụy Điển. Trong hội đồng giám khảo hiện nay chỉ có năm phụ nữ và chưa từng có một ai là phụ nữ giữ chức chủ tịch. Chỉ một thành viên sinh sau năm 1960. Một phần dẫn đến điều này là do ta không thể từ nhiệm khỏi Viện. Đây là một bản án chung thân. Do đó, những gương mặt mới hiếm khi xuất hiện. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, có hai thành viên đã từ chối hợp tác trong các cuộc thảo luận xét giải bởi những bất đồng trước đó, một là do phản ứng của hội đồng, hoặc đúng hơn là sự không có phản ứng, đối với bản án fatwa chống lại Salman Rushdie và người còn lại là do việc trao giải cho Elfriede Jelinek – một nhà văn mà thành viên bất đồng này cảm thấy là đầy “hỗn loạn và khiêu dâm”.

Làm thế nào mà những giám khảo này quyết định ai là tiểu thuyết gia và/hoặc là nhà thơ vĩ đại nhất trên trường quốc tế hiện nay? Họ dựa vào nhiều chuyên gia văn học ở nhiều nước và trả cho những người này để đưa ra một số nhận xét về những người có khả năng thắng cuộc. Danh tính của những chuyên gia như vậy được yêu cầu phải giữ kín nhưng hẳn nhiên là cuối cùng thì một số trong số họ hóa ra lại là người quen của những người mà họ đã đề cử.

Hãy thử tưởng tượng lượng sách phải đọc là bao nhiêu. Giả dụ có một trăm nhà văn được đề cử mỗi năm – đó không phải là điều khó hình dung – và rằng hội đồng giám khảo bắt đầu từ việc đọc ít nhất một tác phẩm của mỗi người trong số họ. Nhưng tất nhiên, đây là một giải thưởng dành cho toàn bộ sự nghiệp của nhà văn, nên hãy giả sử tiếp rằng khi số lượng ứng viên được tỉa bớt thì giờ họ sẽ phải đọc hai tác phẩm của những nhà văn còn lại, rồi ba, rồi bốn. Khả năng xảy ra là mỗi năm họ phải đối mặt với việc đọc hai trăm quyển sách (ngoài khối lượng công việc thông thường của mình). Trong số những cuốn sách này, rất ít sách được viết bằng tiếng Thụy Điển; và chỉ một số là bằng tiếng Anh hoặc có bản dịch tiếng Anh. Nhưng người Anh và người Mỹ vốn nổi tiếng là không dịch nhiều nên với những tác phẩm có xuất xứ hẻo lánh hơn, họ sẽ phải đọc từ những bản dịch bằng tiếng Pháp, tiếng Đức hoặc có lẽ là tiếng Tây Ban Nha.

Cũng nên nhớ rằng những bài thơ cũng như các tiểu thuyết – những tác phẩm mà chúng ta đang bàn tới đến từ khắp nơi trên thế giới, nhiều trong số đó gắn bó mật thiết với các nền văn hóa và văn học truyền thống mà, dễ hiểu và dễ tha thứ thôi, các thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển khó mà biết được hết. Và ta có một đống một đáng những cuốn sách khó nhằn và hỗn độn mà những vị giáo sư này phải tiêu hóa và so sánh, năm nào cũng như năm nào. Trong một phản hồi gần đây trước những chỉ trích cho rằng có tận bảy giải thưởng trong vòng mười năm trở lại dành cho những tác giả châu Âu, Peter Englund – chủ tịch hội đồng giám khảo hiện nay, tuyên bố rằng các thành viên chấm giải đọc tiếng Anh thông thạo lắm nhưng khả năng của họ trong những ngôn ngữ như tiếng Indonesia thì lại là vấn đề khác. Hẳn rồi.

Hãy tạm dừng một chút ở đây, và hình dung về các giáo sư Thụy Điển của chúng ta, những người được kêu gọi giữ gìn sự thanh khiết của tiếng Thụy Điển, trong khi họ so sánh một nhà thơ đến từ Indonesia, có lẽ là qua bản dịch tiếng Anh, với một tiểu thuyết gia người Cameroon, có lẽ chỉ có mỗi bản dịch tiếng Pháp, và một nhà văn khác viết bằng tiếng Nam Phi nhưng được xuất bản bằng tiếng Đức và Hà Lan, và sau đó là một bức tượng đài như Philip Roth, một người mà hiển nhiên rằng họ có thể đọc bằng tiếng Anh, nhưng cũng có tí bị cám dỗ bởi bản dịch tiếng Thụy Điển, chỉ vì cảm giác kiệt sức chẳng hạn.

Chúng ta có nên ghen tỵ với họ trong nhiệm vụ này? Liệu điều đó có mang lại nhiều ý nghĩa? Một thế kỷ trước, hai thành viên không muốn nhận trách nhiệm này đã lo ngại rằng Viện sẽ trở thành “một tòa án văn chương quốc tế”. Một điều mà bản năng họ mách bảo rằng có vấn đề. Và họ đã không lầm.

Bây giờ, hãy tiếp tục hình dung rằng chúng ta bị kết án chung thân, từ năm này qua năm khác, cái án phải đưa ra một quyết định nặng nề và gần như là bất khả mà thế giới, bằng một cách khó lý giải, ngày càng gán cho nó mang một tầm quan trọng đến điên rồ. Chúng ta phải làm thế nào đây? Ta tìm kiếm một số tiêu chí đơn giản, nhanh gọn và được rộng rãi đồng thuận sẽ giúp ta đi vòng qua nỗi đau này. Và bởi, như chính bản thân Borges đã lưu ý, mỹ học là một thứ rất phức tạp và đòi hỏi một sự nhạy cảm đặc biệt cũng như suy niệm lâu dài, trong khi đó các ẩn ý chính trị thì được chộp lấy dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, ta bắt đầu xác định những khu vực trên thế giới thu hút được sự chú ý của công chúng, có thể do bất ổn chính trị hoặc xâm phạm nhân quyền; ta tìm kiếm những cây viết đã được đông đảo mọi người kính nể và có thể đã đạt cả những giải thưởng lớn từ cộng đồng văn chương của những quốc gia này và họ thẳng thắn đứng về phía lẽ phải, trong bất kỳ sự chia rẽ chính trị nào mà chúng ta đang nói đến, và ta lựa chọn họ. Và vậy là có những thời kỳ giải Nobel đến với các nhà bất đồng chính kiến phương Đông, hoặc các nhà văn Nam Mỹ chống lại chế độ độc tài, hoặc các nhà văn Nam Phi chống chính sách phân biệt chủng tộc, hoặc, đáng kinh ngạc hơn cả, là nhà soạn kịch Dario Fo tẩy chay Berlusconi, người mà sự chiến thắng của ông đã mang lại một số hoang mang tại Ý.

Đó là một công thức đáng vinh hạnh nhưng chao ôi, không phải mọi nơi rắc rối đều sở hữu một nhà văn bất đồng chính kiến vĩ đại của riêng họ (như Tây Tạng, Chechnya), mà ta cũng có thể bổ sung thêm rằng vì giải thưởng được xem là trao cho nhà văn ngang với trao cho đất nước đó nên dĩ nhiên người ta không thể nào trao giải cho các nhà văn đến từ cùng một nơi rắc rối hai năm liền. Thật là một câu hỏi hóc búa!

Đôi khi các giám khảo rõ ràng đã phải chịu hậu quả. Nhận được rất nhiều giải thưởng văn học lớn ở Đức và Áo, nhà nữ quyền cánh tả Jelinek dường như là một lựa chọn an toàn trong năm 2004. Nhưng tác phẩm của bà lại dữ dội, thường là khá khó cảm (bà không bao giờ giành được giải thưởng văn học ở Ý hay Anh) và đặc biệt cuốn tiểu thuyết Greed được ra mắt ngay trước khi giải thưởng Nobel được trao, quả thật là khó đọc. Tôi biết vì tôi đã thử, rồi lại thử lại lần nữa. Các thành viên của hội đồng giám khảo đã thực sự đọc nó chăng? Ta không thể không tự hỏi. Không có gì đáng ngạc nhiên là sau những tranh cãi gây ra bởi chiến thắng của Jelinek, ban giám khảo đã quay trở lại với những lựa chọn hiển nhiên trong một vài năm sau: Pinter – thích hợp về mặt chính trị và đã nửa phần bị quên lãng; sau đó là Vargas Llosa – người mà không hiểu sao tôi lại đã cho rằng đã đoạt được giải thưởng này nhiều năm về trước.

Thi thoảng, thật là nhẹ nhõm khi ta kệ bố đời và trao nó cho một người Thụy Điển, trong trường hợp này là một nhà văn 80 tuổi, người được công nhận là nhà thơ còn sống xuất chúng nhất của đất nước ông, người mà toàn bộ văn nghiệp, như Peter Englund nhận xét một cách duyên dáng, có thể vừa khít để in thành một cuốn thơ bìa mềm mong mỏng. Tóm lại, một người chiến thắng mà toàn bộ ban giám khảo có thể đọc bằng chính tiếng Thụy Điển của họ chỉ trong vài giờ. Có lẽ họ cần một kỳ nghỉ phép có lương[1] chăng. Đó là còn chưa kể đến chi tiết, không hẳn là không liên quan trong những thời điểm khủng hoảng như thế này, là giải thưởng trị giá 1,5 triệu đô kia sẽ ở lại Thụy Điển.

Nhưng lành mạnh nhất trong tất cả là, một quyết định như thế này, mà ta đều hiểu sẽ không bao giờ được đưa ra bởi một ban giám khảo người Mỹ, hoặc hội đồng giám khảo Nigeria, hay có lẽ trên tất cả là ban giám khảo Na Uy, nhắc nhở chúng ta về sự ngớ ngẩn trong bản chất của giải thưởng Nobel cũng như sự ngớ ngẩn của chính chúng ta trong việc coi trọng nó. Mười tám (hoặc mười sáu) công dân Thụy Điển mà đi phân định các tác phẩm văn chương Thụy Điển thì hẳn là tin cậy được rồi – vì vậy ta có thể yên tâm rằng Tranströmer thực sự là một nhà thơ tuyệt vời – nhưng ở đâu tồn tại một nhóm có thể thực sự nắm bắt được khối lượng tác phẩm vô cùng vô tận đến từ vô vàn các truyền thống văn học khác nhau? Và tại sao chúng ta lại đề nghị họ làm điều đó?

Thùy Dương dịch


[1] Kỳ nghỉ Sabbatical dành cho các thành viên trong giới học thuật.

Bản gốc: What’s Wrong With the Nobel Prize in Literature của Tim Parks.

Chấm sao chút:

Đã có 5 người chấm, trung bình 5 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Bạn nghĩ sao?