Tim Parks, “Thứ tiểu thuyết toàn cầu mới chán chết”

Thời gian đọc: 5 phút

Chẳng phải mọi nhà văn đều hình dung độc giả của mình theo một cách giống nhau. Nhiều cây viết thậm chí còn chẳng nghĩ đến chuyện hướng tác phẩm của mình tới bất kỳ đối tượng độc giả cụ thể nào. Dầu sao mặc lòng, lịch sử ghi nhận những thời kỳ mà cách nhìn của mọi nhà văn về đối tượng độc giả của họ thay đổi, dẫn tới điều không thể tránh khỏi là những gì họ viết cũng thay đổi. Ví dụ dễ thấy nhất là trong khoảng từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười sáu, văn sĩ trên khắp châu Âu từ bỏ tiếng Latinh để viết bằng ngôn ngữ bản xứ. Thay vì giới thiệu tác phẩm của mình trên sân chơi quốc tế vốn nằm trong tay một nhóm tinh hoa thuộc giới tăng lữ, họ “lui về” với ngôn ngữ địa phương, với tiếng nói quốc gia, để chuyển toàn bộ sự chú ý sang tầng lớp trung lưu mới nổi.

Trong lịch sử văn chương, cuộc chuyển dịch sang ngôn ngữ bản địa này thường được coi là nguồn cảm hứng dân chủ, nơi sức sống bản địa dồi dào sinh lực truyền vào con chữ và mang đến sự tự tin cho những ngôn ngữ quốc gia đang ngày một bền chắc. Dù vậy, điều ấy có lẽ còn chịu tác động của tham vọng và lợi ích kinh tế cũng như chủ nghĩa duy tâm. Rồi đến thời điểm mà việc viết bằng tiếng Latinh không còn phù hợp bởi những người dẫn dắt thị hiếu giờ nằm ở tầm quốc gia chứ không phải quốc tế. Giờ đây chúng ta đang bước vào cuộc cách mạng còn lớn hơn thế, đưa chúng ta theo một chiều hướng hoàn toàn khác.

Toàn cầu hóa với tốc độ chóng mặt đưa chúng ta tiến tới thị trường văn chương toàn cầu. Ngày càng nhiều người quan niệm rằng một nhà văn được cho là “vĩ đại” cần phải trở thành hiện tượng quốc tế chứ không chỉ ở tầm quốc gia. Có lẽ thay đổi này ở Mỹ không thể hiện rõ rệt tức thì như ở châu Âu, bởi quy mô và sức mạnh của thị trường Mỹ và bởi tiếng Anh vẫn được cho là ngôn ngữ toàn cầu nên văn bản dịch từ tiếng Anh sang các ngôn ngữ khác thường nhiều hơn chiều ngược lại. Nhưng ngày càng nhiều nhà văn châu Âu, Phi, Á và Nam Mỹ tự xem mình là kẻ “thất bại” nếu không chạm được đến độc giả quốc tế.

Trong vài tháng gần đây, các nhà văn Đức, Pháp và Ý – những quốc gia đã hình thành lượng độc giả trong nước lớn và vững chắc  – bày tỏ với tôi nỗi thất vọng vì không thể tìm được nhà xuất bản Anh ngữ cho tác phẩm của họ; điều thú vị là họ phàn nàn rằng việc này ảnh hưởng đến danh tiếng của họ tại quê nhà: rằng nếu nơi khác người ta không muốn đọc tác phẩm của anh thì tức là anh cũng chẳng giỏi giang gì. Chắc chắn rằng ở Ý nơi tôi sống, một nhà văn chỉ được cho là thành công khi đã có tác phẩm xuất bản ở New York. Chỉ cần nghĩ xem danh tiếng của Zola và Verga sẽ giảm đi biết bao nhiêu nếu tác phẩm của họ không được xuất bản ngay ở London là hiểu mọi thứ đã thay đổi biết bao.

Diễn tiến này còn được thúc đẩy cực nhanh bởi khả năng truyền tải văn bản điện tử. Ngày nay, sau khi một tiểu thuyết hoặc thậm chí chỉ một chương mở đầu hoàn tất, tác giả có thể gửi ngay tới muôn vàn nhà xuất bản trên khắp thế giới. Việc tác phẩm được bán bản quyền ra nước ngoài trước khi tìm được nhà xuất bản trong nước cũng không hề hiếm gặp. Một đại diện sành sỏi sau đó có thể dàn xếp để tác phẩm đồng thời ra mắt ở nhiều quốc gia bằng những chiến dịch quảng bá mà chúng ta thường gán cho các tập đoàn đa quốc gia. Độc giả cầm trên tay cuốn Biểu tượng thất truyền của Dan Brown, tập Harry Potter mới nhất, một tác phẩm của Umberto Eco, Haruki Murakami hay Ian McEwan hiểu rằng cũng tác phẩm ấy cũng đang nằm trong tay độc giả trên toàn thế giới. Mua một cuốn sách là trở thành một phần của cộng đồng toàn cầu. Suy nghĩ ấy càng tăng thêm sức hút cho cuốn sách.

Các giải thưởng văn chương quốc tế mọc lên như nấm nhằm đảm bảo rằng cái hiện tượng trên không chỉ giới hạn trong mảng sách phổ thông đại chúng trên thị trường văn chương. Dù quy trình chọn lọc còn nhiều vấn đề và các lựa chọn thường rất dị thường, giải Nobel vẫn được cho là quan trọng hơn các giải thưởng quốc gia. Giải thưởng Impac ở Ireland, Mondello ở Ý, Giải văn chương quốc tế ở Đức ngày càng có uy tín hơn. Do vậy, người dẫn dắt thị hiếu không còn là đồng hương của tác giả – không phải những kẻ anh ta dễ dàng biết được, sinh hoạt cùng một nhóm với anh ta.

Hậu quả mang đến cho văn chương là gì? Từ phút giây tác giả nhận ra rằng đối tượng cuối cùng của mình là độc giả quốc tế chứ không phải trong nước, bản chất tác phẩm của họ thay đổi. Cụ thể là xu hướng loại bỏ những trở ngại khiến độc giả quốc tế khó tiếp nhận văn bản. Hugo Claus viết tác phẩm của mình vào những năm 60 của thế kỷ hai mươi, tích cực dấn thân vào nền văn hóa và chính trị phức tạp trên đất nước mình, ông không hề quan tâm đến việc tiểu thuyết của ông khiến những độc giả ngoài nước Bỉ quê hương ông và nhất là dịch giả muốn chuyển ngữ tác phẩm của ông sẽ phải vật lộn ra sao. Trái lại, những tác giả đương đại như nhà văn người Na Uy Per Petterson, nhà văn người Hà Lan Gerbrand Bakker hay nhà văn người Ý Alessandro Baricco mang đến những tác phẩm không đòi hỏi ở độc giả kiến thức hay nỗ lực đặc biệt nào, cũng chẳng có phần thưởng mà những nỗ lực như vậy vẫn thường mang lại.

Quan trọng hơn cả là ngôn ngữ bị đơn giản hóa. Kazuo Ishiguro từng nói về tầm quan trọng của việc tránh chơi chữ hay lối nói bóng gió để dịch giả dễ làm việc hơn. Các nhà văn vùng Scandinavia mà tôi quen bảo rằng họ tránh đặt tên nhân vật quá khó cho các độc giả nói tiếng Anh.

Nếu mớ bòng bong gây ra bởi đặc thù văn hóa và khả năng ngôn ngữ bậc thầy biến thành trở ngại, những chiến thuật khác lại được đánh giá tốt: phép tu từ rõ như ban ngày được nhận diện ngay thành “mang đầy chất văn chương” và “giàu tính sáng tạo”, tương tự thứ ngôn ngữ chung tẻ nhạt của những hiệu ứng đặc biệt trong điện ảnh đương đại, và sự nhạy cảm chính trị “quen hóa lạ” đưa tác giả vào đội ngũ những người “đấu tranh vì nền hòa bình thế giới”. Bởi vậy mà những thứ kỹ thuật văn chương mỹ miều quá đáng của một Rushdie hay một Pamuk luôn song hành với một vị thế tự do nhất định, vì như Borges từng nhận định, hầu hết mọi người mang tư duy thẩm mỹ quá kém nên phải dựa vào những tiêu chí khác để đánh giá tác phẩm mà họ đọc.

Dường như định mệnh dọn sẵn cái chết, hay ít nhất là khả năng bị ruồng rẫy, của thứ văn chương say sưa đắm mình trong sự vi tế của chính thứ ngôn ngữ mẹ đẻ và bối cảnh văn hóa của nó, loại văn chương có thể chỉ trích hay tung hô lối sống của cộng đồng người dùng chung một thứ ngôn ngữ nào đó. Thị trường văn chương toàn cầu sẽ không có chỗ cho bất kỳ Barbara Pyms hay Natalia Ginzburgs nào. Shakespeare hẳn sẽ hạn chế chơi chữ. Và một bà Jane Austen thứ hai nào đó đừng mơ đến giải Nobel làm gì.

Tim Parks, “The dull new global novel”, New York Review of Book, 9-2-2010.

Thúy dịch

Bản quyền ảnh © Reader’s High Tea

Chấm sao chút:

Đã có 0 người chấm, trung bình 0 sao.

Hãy là ngôi sao đầu tiên của chúng tôi <3

Người góp chữ

Thúy
Website | Các bài viết khác

Ngày đêm đếm lá và đếm sao.

2 Comments on “Tim Parks, “Thứ tiểu thuyết toàn cầu mới chán chết””

  1. Việc bình dân hoá tác phẩm của mình để nó nhận được sự đón đọc rộng rãi hơn của các độc giả quốc tế! Thật tiếc nếu sau này những tác phẩm của nước A sẽ không khác gì của nước B. Điều mà những tác phẩm văn học từ trước đến nay vốn thể hiện rất xuất sắc – thứ đặc trưng văn hoá của từng vùng miền.

Bạn nghĩ sao?