Haruki Murakami, “With the Beatles”

Thời gian đọc: 36 phút

Điều tôi lấy làm lạ khi trở nên già đi không phải là việc tôi đã già cỗi. Chả phải tôi vốn trẻ trung gì từ hồi xửa xừa xưa mà không ý thức được chuyện mình đã có tuổi. Mà chuyện khiến tôi choáng chính là những người cùng thế hệ mình đã biến thành hội bô lão, kể cả các cô nàng xinh đẹp hoạt bát mà tôi quen giờ đã dư tuổi có thêm vài lũ cháu lít nhít ấy chứ. Thành ra tôi có chút bối rối, thậm chí buồn. Dù tôi chưa bao giờ thấy buồn trước thực tế là tôi cũng đang ở lứa tuổi xêm xêm như họ.

Tôi nghĩ điều khiến mình cảm thấy chạnh lòng nhất khi những cô nàng mà tôi quen biết già đi, chính là buộc mình phải thừa nhận thêm lần nữa, rằng những giấc mộng thời trẻ trai tôi hằng ấp ủ đã trôi xa mãi mãi mất rồi. Về phương diện nào đó, giấc mơ chết đi còn đáng buồn hơn cả cái chết của một sinh vật sống.

*

Có một cô gái – ý tôi là một người đàn bà đã từng là cô gái – người mà tôi còn nhớ như in. Dù vậy, tôi lại chẳng hề biết tên của nàng. Và cứ tự nhiên thế thôi, tôi cũng chẳng hay nàng đang ở đâu và làm gì lúc này. Những gì tôi biết về nàng là nàng học cùng trường cấp ba, đồng niên khóa với tôi (vì huy hiệu trên áo nàng có cùng màu tôi mặc), và nàng cũng thật sự rất thích The Beatles nữa.

Đó là năm 1964, ngay giữa đỉnh cao của thời kỳ sùng The Beatles. Lúc đó mới đầu Thu. Học kỳ mới vừa bắt đầu và mọi thứ lại dần quay vào nhịp điệu thường nhật. Nàng đang hối hả bước xuống dãy hành lang dài, mờ mờ tối của tòa nhà cũ, tà váy khe khẽ rung rinh theo. Còn tôi là cái thằng duy nhất đứng ở đó. Nàng cứ ôm siết lấy chiếc đĩa than vào lồng ngực như thể nó là đồ vật gì quý báu vô ngần. Một chiếc đĩa than “With The Beatles”. Chiếc đĩa có tấm ảnh đen trắng nổi bần bật của bốn thành viên Beatles chụp nửa sáng nửa tối. Vì vài căn nguyên gì đấy, cũng chẳng biết tại sao, tôi cứ nhớ rõ ràng rằng đó là album gốc của bản tiếng Anh, chứ không phải là bản Mỹ hay bản Nhật.

Nàng là một cô gái rất xinh. Ít nhất là đối với tôi lúc đó, nàng trông vô cùng kiều diễm. Dáng dấp không cao lắm, nhưng nàng có mái tóc đen dài, đôi chân thon thả và mùi hương dễ chịu. (Này cũng có thể là tôi nhớ lẫn đấy, ai mà biết được. Có khi cô nàng còn chả có hương hiếc gì đâu. Nhưng đấy là tất cả những gì tôi nhớ, như thể mỗi khi nàng bước qua, lại có thứ mùi hương quyến rũ, vấn vít theo lối tôi đi). Nàng đã làm tôi bị ếm bùa – cái cô gái đẹp, chưa biết tên, đang ôm chặt chiếc đĩa than “With The Beatles” vào lòng ấy.

Tim tôi bắt đầu đập thình thịch, hơi thở hổn hển, và dường như tất cả âm thanh đều ngưng trệ, như thể tôi đang dần chìm sâu xuống đáy hồ. Tất cả những gì tôi nghe thấy được là một tiếng chuông yếu ớt vang lên sâu tận bên trong tai. Tựa như có ai đó đang cố gửi đến tôi một thông điệp quan trọng. Mọi điều này chỉ diễn ra khoảng mươi, mười lăm giây thôi. Nó đã kết thúc trước khi tôi kịp nhận ra, và thứ thông điệp quan trọng chứa đựng ở đó, giống như cốt lõi của tất cả những giấc mơ, đã biến mất.

Một hành lang mờ mờ tối giữa ngôi trường cấp ba, một cô em kiều diễm với gấu váy đung đưa, và “With The Beatles”.

*

Đó là lần duy nhất tôi nhìn thấy người con gái ấy. Trong hai năm kế tiếp và cả đến khi tốt nghiệp, chúng tôi đã chẳng bao giờ lướt qua nhau thêm một lần nào nữa. Khi nghĩ đến ta lại thấy kỳ cục làm sao chứ. Trường cấp ba tôi học là một ngôi trường công lập bề thế nằm trên đỉnh đồi Kobe, với khoảng sáu trăm rưỡi học sinh mỗi khối. (Chúng tôi được gọi là thế hệ bùng nổ dân số, thành thử rất đông.) Mà không phải ai cũng quen biết nhau. Kỳ thực mà nói, tôi cũng chả biết tên hay nhận ra phần đông mấy đứa ở trong trường. Ấy thế mà, dù tôi ngày ngày chăm chỉ đến trường và thường xuyên đi qua khu hành lang đó, tôi cảm thấy gần như phát sốt phát rét lên khi không được gặp lại cô em xinh đẹp ấy nữa. Tôi cứ mãi ngóng trông hình bóng nàng mỗi khi bước qua hành lang trường.

Liệu nàng đã tan đi như một làn khói mỏng? Hay là trong buổi chiều đầu Thu hôm ấy, tôi nhìn thấy không phải là người thực, mà là ảo-ảnh-của-một-thứ-gì-đó? Có lẽ tôi đã lý tưởng hóa về nàng ngay cái lúc chúng tôi đi lướt qua nhau, đến mức nếu như tôi có dịp gặp lại nàng thêm lần nữa, có khi tôi lại chả nhận ra mất (tôi e khả năng cuối cùng là khả dĩ nhất đấy).

Sau này, tôi có quen thêm vài người phụ nữ và thường đi chơi với họ. Và mỗi khi tôi gặp một cô nàng nào mới, tôi vô thức cảm nhận rõ khao khát được sống lại khoảnh khắc rực rỡ mình từng trải qua trên hành lang tối tăm của trường trung học vào mùa Thu năm 1964. Cái cơn rung động dai dẳng thầm lặng trong quả tim ấy, cảm giác khó thở bóp nghẹt lồng ngực, và cả tiếng chuông khe khẽ ngân vang bên tai tôi nữa.

Thi thoảng tôi lại có được cảm giác này, còn những lúc khác thì không. Và những lần khác, tôi cố nắm lấy nó, chỉ để nó nhẹ nhàng trôi tuột qua những kẽ ngón tay mình. Dù sao thì, những cảm xúc dâng trào khi điều này xảy ra đã trở thành một loại thước đo để tôi dùng đo cường độ khao khát của bản thân.

Khi không thể có được cảm giác ấy trong thế giới thực, tôi sẽ lặng lẽ gợi ký ức cho những cảm xúc xưa kia tỉnh thức trong tôi. Bằng cách này, ký ức đã trở thành một trong những công cụ cảm xúc có giá trị nhất của tôi, thậm chí là một phương tiện sinh tồn. Giống như một chú mèo con ấm áp, khẽ cuộn tròn bên trong túi áo khoác rộng quá khổ, ngủ say.

*

Lại nói tiếp về chuyện The Beatles nhé.

Một năm trước khi tôi chạm mặt nàng là lúc The Beatles mới được yêu mến điên cuồng. Đến tháng Tư năm 1964, họ đã giành được năm vị trí hàng đầu trên bảng xếp hạng đĩa đơn của Hoa Kỳ. Nền nhạc Pop trước nay chưa từng chứng kiến cái gì vô tiền khoáng hậu như thế. Năm ca khúc đình đám đó chính là: 1. “Cant buy me love”; 2. “Twist and Shout”; 3. “She loves you”; 4. “I want to hold your hand”; 5. “Please please me”. Chỉ riêng đĩa đơn “Can’t buy me love” thôi đã có hơn hai triệu lượt đăng ký mua trước, biến nó trở thành đĩa bội bạch kim ngay trước khi bản thu âm thật được tung ra.

Dĩ nhiên là The Beatles cũng cực cực kỳ nổi tiếng kinh khủng khiếp ở Nhật Bản rồi. Cứ bật radio lên là lập tức bạn sẽ nghe thấy một trong những bài hát của họ ngay. Tôi vô cùng yêu thích nhạc của bốn người đó và biết hết mọi bản hit của họ. Cứ thử bảo tôi hát đi là tôi hát được luôn. Mỗi khi tôi ngồi học ở nhà (hoặc là giả vờ học), hầu hết thời gian đó là lúc tôi vặn cho đài phát thanh nổ banh luôn. Nhưng thực lòng mà nói thì tôi chưa bao giờ là một người hâm mộ cuồng nhiệt của The Beatles cả. Tôi không bao giờ chủ động tìm kiếm các bài hát của họ. Đối với tôi, tôi thường nghe thụ động, những giai điệu Pop tuôn chảy ra từ chiếc loa tí hon gắn với đài bán dẫn hiệu Panasonic, từ tai này trôi qua tai kia, hầu như chẳng lưu lại gì. Những bản nhạc nền cho tuổi mới lớn của tôi. Lớp giấy dán tường bằng âm nhạc.

Hồi học cấp ba và ngay cả khi đã lên đại học, tôi vẫn không mua một bản thâu âm nào của The Beatles cả. Tôi mê mẩn nhạc Jazz và nhạc cổ điển hơn nhiều, và đó là những gì tôi nghe khi tôi muốn tập trung vào âm nhạc. Tôi đã dành dụm tiền để mua các bản thâu âm Jazz, nhạc theo yêu cầu của Miles Davis và Thelonious Monk ở các quán bar nhạc Jazz và đi đến các buổi hòa nhạc cổ điển.

Chuyện này thoạt nghe có vẻ lạ, nhưng mãi cho đến khi ngoài ba mươi, tôi mới có dịp ngồi xuống mà nghe hết album “With The Beatles” từ đầu đến cuối. Dù thực tế hình ảnh người con gái ôm chiếc đĩa than ấy đi trên hành lang của trường trung học chưa bao giờ rời bỏ tôi, nhưng trong một khoảng thời gian dài đằng đẵng tôi không có cảm giác như mình thật sự muốn lắng nghe. Tôi chẳng đặc biệt muốn biết được loại nhạc nào được khắc vào các rãnh đĩa than mà nàng đã ôm chặt vào ngực.

Khi tôi đã ngoài ba mươi, đã hậu tuổi thơ và thiếu niên từ lâu, ấn tượng đầu tiên của tôi về album này là nó không tuyệt vời cho lắm, hoặc chí ít cũng không phải là loại nhạc khiến cho bạn phải nín thở. Trong số mười bốn bài hát trong album, đã có sáu bài là cover của các nghệ sĩ khác. Các bản cover “Please Mr. Postman” của Marvelettes, hay “Roll Over Beethoven” của Chuck Berry đã được thực hiện rất tốt, và gây ấn tượng với tôi ngay cả khi tôi nghe chúng bây giờ, nhưng nói gì thì nói, đó cũng chỉ là những bản nhạc được hát lại thôi. Và trong tám bài hát gốc, ngoại trừ “All my loving” của Paul ra thì chả có bài nào xuất sắc cả. Chả có lấy một bản hit nào, và với tai nghe nhạc của tôi mà nói, thì album đầu tay của The Beatles là “Please please me” được ghi âm cơ bản chỉ trong một lần còn sôi động và quyến rũ hơn nhiều. Dù là vậy, rất có thể là nhờ những con dân hâm mộ cuồng nhiệt của The Beatles khao khát khôn nguôi những ca khúc mới, mà album thứ hai này đã chiếm luôn ngôi quán quân tại Hoa Kỳ, một vị trí được chốt hẳn trong hăm mốt tuần. (Ở Mỹ, tiêu đề của album đã được đổi thành “Gặp gỡ The Beatles”, có thêm vài bài khác, dù thiết kế bìa đĩa gần như vẫn giữ nguyên.)

Điều lôi cuốn tôi chính là cái hình ảnh người con gái ôm chặt lấy chiếc đĩa than như thể nó là một tạo vật vô giá. Nếu bỏ đi tấm ảnh trên bìa album, có thể cảnh tượng đó sẽ không khiến tôi mê mệt như xưa. Nhất định là vì có âm nhạc. Nhưng còn một điều gì đó khác, một điều gì đó to lớn hơn nhiều. Và ngay lập tức, hoạt cảnh ấy đã khắc sâu trong tim tôi một chốn lãnh địa tâm linh chỉ có thể tìm thấy duy nhất ở đó, ở một độ tuổi định sẵn, ở một nơi chốn định sẵn, và một thời khắc tiền định.

*

Đối với tôi, sự kiện lớn nhất của năm sau đó, năm 1965, không phải là Tổng thống Johnson ra lệnh ném bom miền Bắc Việt Nam và leo thang chiến tranh, hay phát hiện ra một loài mèo hoang mới trên đảo Iriomote, mà thực tế là tôi đã có một cô bạn gái. Cô ấy học cùng lớp với tôi năm thứ nhất, nhưng đến năm thứ hai chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò.

Để tránh mọi hiểu lầm, tôi những muốn rào trước chuyện này bằng cách nói rằng tôi không bô trai, chửa bao giờ là một vận động viên sáng giá, và điểm số của tôi ở trường chả ưu tú gì sất. Giọng hát của tôi thì còn nhiều khiêm tốn, mà tôi còn chả khéo mồm. Khi tôi còn đi học, và cả những năm sau đó, chẳng bao giờ có vụ các cô gái đổ xô xung quanh tôi. Đó là một trong số ít những điều tôi có thể khẳng định chắc chắn trong cái cuộc sống chả lấy gì làm chắc chắn này. Tuy nhiên, dường như luôn có một cô gái ở quanh đó, vì bất cứ lý do gì đấy, lại bị tôi thu hút. Tôi cũng không biết tại sao, nhưng tôi đã được tận hưởng những khoảng thời gian thân mật, dễ chịu với những cô nàng ấy. Tôi đã trở thành bạn tốt với một vài người trong số họ, và thỉnh thoảng còn đưa nó lên cấp độ tiếp theo. Cô nàng mà tôi đang nhắc đến ở đây là một trong những cô gái đầu tiên mà tôi có mối quan hệ thực sự thân mật.

Cô bạn gái đầu tiên của tôi rất nhỏ nhắn và quyến rũ. Mùa hè năm ấy, tôi thường hẹn hò với cô mỗi tuần một lần. Một buổi chiều nọ, tôi đã hôn lên đôi môi bé xinh nhưng đầy đặn của cô và chạm vào bầu vú cô qua lớp áo ngực. Cô mặc một chiếc váy trắng không tay, trên tóc phảng phất mùi dầu gội cam quýt.

Cô ấy gần như không hề có hứng thú gì với The Beatles. Cô cũng chẳng lấy làm ưa thích nhạc Jazz. Cô ưng nghe loại nhạc êm dịu hơn, những thứ bạn có thể gọi là âm nhạc trung lưu – như dàn nhạc Mantovani này, Percy Faith, Roger Williams, Andy Williams, Nat King Cole, và kiểu kiểu thế (vào cái hồi đó, “trung lưu” không hẳn là một thuật ngữ hạ thấp phẩm cách gì.) Có hàng tá chồng chồng lớp lớp những bản thâu âm như vậy ở nhà cô ấy – bây giờ thì người ta xếp chúng vào thể loại dễ nghe.

Buổi chiều đó, cô đặt một bản thâu lên mâm đĩa than đặt trong phòng khách nhà mình – gia đình cô có hẳn một dàn âm thanh nổi hoành tráng rất ấn tượng – và chúng tôi ngồi hôn nhau trên chiếc ghế sofa rộng rãi thoải mái. Cả nhà cô ấy đã ra ngoài đi đâu đó và chỉ có mỗi hai chúng tôi ở nhà. Thật ra ấy mà, trong cái tình huống như vậy thì tôi còn tâm trí đâu mà quan tâm loại nhạc đang được chơi cơ chứ.

Những gì tôi nhớ về mùa hè năm 1965 là chiếc váy trắng của cô ấy, mùi hương cam quýt từ dầu gội đầu cô gội, cảm giác ghê gớm của chiếc xu-chiêng có gọng của cô đeo (cái thời ấy một chiếc xu-chiêng giống y như tòa pháo đài hơn là mảnh đồ lót bình thường) và màn trình diễn lịch thiệp của dàn giao hưởng Percy Faith bản nhạc chủ đề bộ phim “A summer Place”. Đến tận bây giờ, bất cứ khi nào tôi nghe thấy bản nhạc chủ đề từ bộ phim “A Summer Place”, thì chiếc ghế sofa ngày ấy lại quay về trong tâm trí tôi

Tình cờ, chỉ vài năm sau, là năm 1968, như tôi nhớ, vào khoảng thời gian Robert Kennedy bị ám sát, giáo viên chủ nhiệm của chúng tôi hồi chúng tôi học cùng lớp đã treo cổ tự tử trên cây dầm đỡ trong nhà. Thầy dạy môn xã hội. Suy nghĩ bế tắc được cho là nguyên nhân khiến thầy tự sát.

Suy nghĩ bế tắc ư?

Nhưng quả thật là vậy đấy – vào cuối những năm sáu mươi, đôi khi người ta lại tự kết liễu đời mình vì tư tưởng khốn cùng. Mặc dù không phải lúc nào cũng vậy.

Tôi có một cảm giác thật sự kỳ lạ khi nghĩ rằng vào buổi chiều hôm đó, lúc bạn gái tôi và tôi đang lóng ngóng âu yếm nhau trên ghế sofa, với âm nhạc tuyệt vời của Percy Faith làm nền, thì vị giáo viên nghiên cứu xã hội kia, từng bước, từng bước tiến về phía ngõ cụt chết chóc của ý thức, hay nói cách khác, tiến về phía chiếc nút thít chặt của sợi dây trong câm lặng. Thậm chí có nhiều bận tôi cảm thấy rất tệ hại về chuyện đó. Trong số tất cả các giáo viên mà tôi biết, thầy là một trong những người giỏi nhất. Dù thầy ấy có thành công hay không lại là một câu hỏi khác, nhưng thầy vẫn luôn cố gắng đối xử công bằng với học sinh của mình. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với thầy ngoài lớp học, nhưng đó là cách tôi tưởng nhớ đến thầy.

*

Cũng như năm 1964, năm 1965 vẫn là năm của The Beatles. Họ đã phát hành “Eight days a week” vào tháng Hai, “Ticket to ride” vào tháng Tư, “Help!” vào tháng Bảy và “Yesterday” giữa tháng Chín, tất cả đều đứng đầu bảng xếp hạng của Hoa Kỳ. Dường như lúc nào chúng tôi cũng nghe nhạc của họ. Nó ở khắp mọi nơi, xung quanh chúng tôi, giống như giấy dán tường được dán cẩn thận từng milimet trên mặt tường.

Khi không chơi nhạc của The Beatles, thì lại đến lượt nhóm Rolling Stones “(I can’t get no) Satisfaction”; hay là “Mr. Tambourine man” của Byrds; “My girl” của Temptation, “You’ve lost that lovin’ feelin’” của Righteous Brothers, rồi thì “Help me, Rhonda”. Diana Ross và Supreme cũng có hết bản hit này đến bản khác. Một chuỗi âm thanh kéo dài liên tục của thể loại nhạc vui vẻ tuyệt vời này được phát sóng trên chiếc đài phát thanh bán dẫn tí hon của tôi. Đó thực sự là một năm đáng kinh ngạc của nhạc Pop.

Tôi từng nghe nói rằng khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời ta chính là thời kỳ mà các bản nhạc pop thực sự có ý nghĩa với chúng ta, chạm đến được chúng ta. Có thể là thật. Hoặc cũng có thể không. Rốt cuộc, các bản nhạc pop có thể chả là gì ngoài các bản nhạc pop. Và có khi cuộc sống của ta chỉ đơn thuần là những vật phẩm trang trí, dùng rồi vứt, một cú bùng nổ sắc màu trong chớp mắt và chẳng có gì hơn thế.

*

Căn nhà bạn gái tôi đang ở nằm sát đài phát thanh Kobe mà tôi vẫn thường hay nghe. Tôi nghĩ là cha cô nhập khẩu, hoặc có lẽ xuất khẩu, thiết bị y tế. Tôi không biết rõ chi tiết. Dù sao đi nữa thì ông ấy vẫn sở hữu công ty riêng của mình, có vẻ như đang làm ăn khá khẩm. Nhà của họ nằm trong một khu rừng thông gần biển. Tôi nghe kể nó từng là biệt thự mùa hè của vài vị doanh nhân và gia đình cô ấy đã mua rồi sửa sang lại. Những rặng thông xào xạc trong gió biển. Đó là nơi lý tưởng để nghe bản nhạc chủ đề của phim “A Summer Place”.

Nhiều năm sau, tôi tình cờ xem một chương trình truyền hình đêm khuya phát sóng bộ phim năm 1959 ấy, “A summer place”. Đó là một bộ phim Hollywood điển hình về ái tình trẻ dại, nhưng dù sao nó cũng được dựng rất tốt. Trong phim, có một rừng thông nằm bên bờ biển, kêu lao xao giữa những ngọn gió mùa hè đúng lúc đến phần kèn tenor của dàn giao hưởng Percy Faith. Cảnh tượng những cây thông đung đưa trong gió đập vào tôi như một phép ẩn dụ cho những người trẻ tuổi cuồng nhiệt dục vọng. Nhưng đó có thể chỉ là do tôi tự suy diễn thế, là ý nghĩ chủ quan của riêng tôi mà thôi.

Trong phim, Troy Donahue và Sandra Dee đã bị cuốn vào luồng gió tình dục khôn cưỡng, và bởi vì nó, mà đã gặp phải tất cả các loại vấn đề trong thế giới thực. Hiểu lầm rồi hòa giải, trở ngại được xóa tan như sương mù, rồi cuối cùng hai người lại đến với nhau và kết hôn. Ở Hollywood vào những năm 50, kết thúc có hậu là phải có hôn nhân –  nhằm tạo ra một môi trường mà những người yêu nhau có thể quan hệ tình dục hợp pháp. Bạn gái tôi và tôi, dĩ nhiên, đã không kết hôn. Chúng tôi vẫn còn học trung học, và tất cả những gì chúng tôi đã làm là vụng về mò mẫm và âu yếm nhau trên ghế sofa với bản nhạc chủ đề từ bộ phim “A Summer Place” làm nền.

“Ấy biết gì không?” cô nói với tôi khi đang ngồi trên ghế sofa với chất giọng khe khẽ, như thể cô đang thú nhận một điều gì đó. “Tớ là típ người hay ghen lắm đấy.”

“Thật ấy hả?” tôi hỏi.

“Tớ chỉ muốn chắc chắn rằng ấy cũng sẽ biết điều này thôi.”

“Được thôi.”

“Nhiều khi tớ cảm thấy rất đau khổ vì hay ghen, ấy ạ.”

Tôi lặng lẽ vuốt tóc cô. Hồi ấy tôi đâu thể hiểu nổi cảm giác ghen tuông bùng cháy là thế nào, những căn nguyên nào gây ra nó, và những gì nó dẫn đến. Tôi đã quá bận tâm với cảm xúc của chính mình.

Một ghi chú bên lề là, Troy Donahue, ngôi sao trẻ đẹp trai đó, sau này đã bị cuốn vào rượu và ma túy, ngừng đóng phim và thậm chí sống lang thang trong một thời gian. Sandra Dee cũng vậy, vật lộn với chứng nghiện rượu. Donahue kết hôn với nữ diễn viên nổi tiếng Suzanne Pleshette vào năm 1964, nhưng họ đã ly dị 8 tháng sau đó. Dee kết hôn với ca sĩ Bobby Darin vào năm 1960, nhưng rồi họ cũng đường ai nấy đi vào năm 1967. Điều này rõ ràng hoàn toàn không liên quan đến cốt truyện của “A summer place”. Và cũng chẳng dính dáng gì đến số phận của tôi và bạn gái tôi.

*

Bạn gái tôi có một ông anh trai và một cô em gái. Cô em kia đang học năm hai trung học cơ sở thế mà cao hơn cô chị hẳn hai phân. Con bé này cũng chẳng đặc biệt dễ thương gì cho cam. Hơn nữa, lại còn dính chằm chặp một cặp đít chai dày cộm trên sống mũi. Nhưng bạn gái tôi thì cưng nó lắm. Cô cứ khoe với tôi là “Điểm số của con bé trên trường siêu lắm đó nha!”. Tôi e rằng điểm số của bồ mình chỉ trên mức trung bình khá. Cũng như tôi vậy thôi.

Có lần bọn tôi cho cô em gái này đi xem phim cùng. Có vài lý do khiến chúng tôi phải làm thế. Phim đó là phim “The Sound of Music” ấy. Lúc đến thì cả rạp đã chật ních, thành thử cả đám phải ngồi sát ngay đằng trước, và tôi luôn nhớ chuyện phải xem sát gần một bộ màn ảnh rộng loại 70mm làm mắt tôi nhức đến tận cuối buổi. Còn cô bồ của tôi chả hiểu sao lại phát cuồng vì mấy bài hát trong phim. Cô đã tìm mua ngay đĩa than nhạc phim và về nghe mê mải từ ngày sang tháng nọ. Tôi thì nghiện album “My Favourite Things” đầy mê hoặc của John Coltrane hơn, nhưng tôi biết là có nói chuyện này với cô thì vô dụng thôi, nên chả bao giờ tôi làm thế.

Cô em gái của bồ tôi có vẻ không ưa tôi cho lắm. Bất cứ khi nào chạm mắt nhau, con bé đều nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ cục, hoàn toàn vô cảm – cứ như là con bé đang dò xét xem mớ cá khô để ở sâu tít bên trong tủ lạnh còn ăn được không. Và vì lý do gì đó, cái nhìn ấy luôn khiến tôi cảm thấy có lỗi. Mỗi lần nó nhìn chằm chằm vào tôi, là như kiểu phớt lờ hết tất cả mọi thứ xung quanh (dù cũng phải thừa nhận rằng xung quanh cũng đếch có cái gì mà nhìn) và nó có thể xuyên thấu qua con người tôi, đến sâu thẳm tận bên trong. Tôi có thể cảm giác như vậy bởi vì tôi thực lòng thấy xấu hổ và tội lỗi vô cùng.

Ông anh của bồ tôi lớn hơn cô ấy bốn tuổi, thế nên gã đã ít nhất đã thuộc đầu hai. Cô nàng không hề giới thiệu gã với tôi và hầu như chẳng bao giờ đề cập đến gã. Nếu gã tình cờ xuất hiện trong cuộc trò chuyện, cô liền khéo léo thay đổi chủ đề. Giờ tôi có thể thấy thái độ của cô hơi mất tự nhiên. Nhưng tôi không nghĩ nhiều về nó. Tôi chẳng quan tâm gì đến gia đình cô. Bởi điều thu hút tôi đến với cô là một xung lực gấp gáp hơn nhiều.

Lần đầu tiên tôi gặp ông anh trai ấy và có dịp trò chuyện với gã là khoảng cuối Thu 1965.

Chúa-Nhật tuần đó, tôi đến nhà bạn gái để rước cô đi chơi. Tôi cứ đứng bấm chuông cả triệu lần nhưng chả có ai ừ hử gì. Tôi ngưng lại một lúc, rồi lại tiếp tục bấm chuông liền tù tì, cho đến khi rốt cục cũng nghe thấy tiếng ai đó di chuyển chậm chạp về phía cửa. Chính là ông anh trai của bồ tôi.

Gã nom cao hơn tôi và có tí đô con hơn hẳn. Không phải kiểu béo bệu mà giống như một vận động viên, vì lý do gì đấy đã không tập luyện một thời gian nên tăng thêm vài ký, nhưng chỉ dạng béo tạm thời thôi. Bờ vai gã tương đối rộng, có điều cổ lại dài và thon. Mái tóc rối bù, chĩa ra tứ phía, như vừa mới ngủ dậy. Tóc tai thô cứng, hình như gã đã để quá hạn đi hớt tóc đến hai tuần. Gã mặc một chiếc áo len cổ tròn màu xanh hải quân, cổ áo đã chảy dão, và quần thể thao màu xám rộng thùng thình xung quanh đầu gối. Nói chung, vẻ ngoài của ông anh này trái ngược hẳn với bạn gái tôi – cô nàng luôn sạch sẽ, gọn gàng và chăm chút chỉn chu.

Gã nheo nheo mắt nhìn tôi một lúc, như một con thú hoang nhếch nhác sau khoảng thời gian ngủ đông dài đang bắt đầu bò ra ngoài.

“Anh đoán chú mày là… bồ của con bé Sayoko hử?” Gã hỏi câu này trước khi mồm miệng tôi kịp phun ra câu gì. Gã húng hắng cổ họng. Giọng gã có vẻ ngái ngủ, nhưng tôi đánh hơi được một tia hứng thú nằm trong đó.

“Vâng,” tôi đáp và giới thiệu về mình. “Em có hẹn trước là sẽ đến đây vào lúc 11 giờ.”

“Sayoko giờ không có ở đây đâu,” gã nói.

“Không có ở đây á?” tôi lặp lại câu nói của gã.

“Nó đi đâu đấy rồi. Không có nhà.”

“Nhưng em đã hẹn là sẽ tới đón cô ấy lúc 11 giờ rồi mà!”

“Phải không đó?” Gã hỏi lại, rồi quay qua liếc nhìn bức tường bên cạnh như để kiểm tra đồng hồ. Nhưng không có cái đồng hồ nào treo trên đó cả, chỉ là một bức tường thạch cao trắng ởn. Gã bất đắc dĩ quay lại nhìn tôi, “Có khi thế thật, nhưng sự thực là nó không có nhà đâu”.

Tôi không biết nên làm gì. Và anh trai cô rõ ràng cũng thế. Gã nhàn nhã ngáp dài và gãi gãi đầu. Mọi hành động của gã đều lề mề và có chừng.

“Hình như giờ này chả có ma nào ở nhà hết,” gã bảo. “Lúc nãy anh vừa bò ra khỏi giường là đã chả thấy ai rồi. Chắc mọi người ra ngoài cả rồi, nhưng đi đâu thì anh mày chịu.”

Tôi im ru.

“Ông bô anh chắc đi chơi golf rồi. Mấy con ranh kia có khi cũng tếch đi đú đởn hết. Hừm, nhưng bà bô mình cũng ra ngoài, quái nhề? Thường thì làm gì có vụ này.”

Tôi cố dằn cơn phán đoán xuống. Dù sao thì đây cũng đâu phải chuyện nhà tôi.

“Nhưng nếu Sayoko đã hứa là sẽ có mặt ở nhà thì anh nghĩ nó cũng về ngay thôi,” ông anh cô bảo. “Sao chú mày không vào đây ngồi đợi đi?”

“Thôi, em không muốn quấy rầy anh đâu. Để em đi chơi đâu đó rồi quay lại,” tôi đáp.

“Dào, quấy rầy gì đâu,” gã nói như đinh đóng cột. “Phải nghe tiếng chuông cửa rú lên rồi lẹt quẹt ra mở cửa còn phiền hơn. Cứ vào đi.”

Chẳng còn lựa chọn nào khác, tôi đành đi vào, ông anh trai cô dẫn tôi đến phòng khách. Căn phòng khách có chiếc ghế sofa tôi và cô đã âu yếm nhau trên đó vào mùa hè. Tôi ngồi xuống, và ông anh bồ tôi cũng thả phịch mình xuống chiếc ghế bành đối diện, một lần nữa nhả ra cái ngáp dài.

“Chú mày là bồ của Sayoko nhỉ?” gã hỏi lại như để chắc chắn gấp đôi.

“Vâng,” tôi trả lời lại y hệt.

“Không phải bạn của Yuko?”

Tôi gật gật đầu. Yuko là nhỏ em cao hơn hẳn của bồ tôi.

“Hẹn hò với con bé Sayoko có vui không?” ông anh trai hỏi tôi, mắt gã ánh lên một tia tò mò.

Tôi không biết đáp sao nên tiếp tục im lặng. Gã vẫn ngồi trơ trơ đó, chờ tôi trả lời.

“Vui chứ ạ,” tôi cất tiếng. Cuối cùng tôi cũng tìm ra một câu và hy vọng nó là câu trả lời đúng.

“Vui nhưng nhạt nhẽo lắm?”

“Không phải, ý em không phải thế…” giọng tôi lí nhí dần.

“Chả sao đâu,” ông anh trai tiếp lời. “Thú vị hay vui thì cũng có khác gì nhau đâu, anh cho là thế đấy. Ê, chú mày ăn sáng chưa?”

“Em ăn rồi ạ.”

“Anh sẽ đi nướng mấy lát bánh mì cái đã. Có chắc là chú mày không muốn làm vài miếng chứ?”

“Em ăn rồi ạ.”

“Cà-phê thì sao?”

“Em uống rồi ạ.”

Tôi cũng muốn làm một tách cà-phê lắm chứ. Nhưng lại ngại dính dáng nhiều đến gia đình bạn gái mình, nhất là khi cô đang không có ở nhà.

Gã lẳng lặng đứng lên và rời khỏi phòng khách. Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng lẻng xẻng của cốc đĩa va vào nhau. Tôi vẫn cứ ngồi yên trên ghế sofa, lưng dựng thẳng tắp, tay đặt trên đùi, chờ cô quay về từ bất cứ nơi đâu. Đồng hồ đã điểm mười một giờ mười lăm.

Tôi quét lại trí nhớ của mình, để xem liệu chúng tôi có thực sự quyết định rằng tôi sẽ đến đây vào lúc mười một giờ hay không? Nhưng cho dù tôi có nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tái nghĩ hồi, tôi vẫn chắc chắn là mình đã nhớ thời gian chính xác. Chúng tôi có nói chuyện điện thoại vào đêm hôm trước và xác nhận điều ấy ngay lúc sau. Cô ấy không phải là kiểu người hay quên lời hứa. Và quái đản thật, cả cô nàng với gia đình đều đi vắng vào sáng Chúa-Nhật rồi vứt gã anh trai ở nhà một mình.

Khó xử vì mọi thứ, tôi đành kiên nhẫn chờ đợi. Thời gian cứ ì ạch trôi qua. Thỉnh thoảng tôi lại nghe thấy có tiếng động phát ra từ nhà bếp. Tiếng mở vòi nước, tiếng muỗng trộn một thứ gì đó, tiếng cửa tủ đóng mở. Dường như lão anh này là típ người ưa ầm ĩ thì phải, dù là bất cứ việc gì gã làm. Nhưng cứ vậy đấy, theo mớ âm thanh hỗn tạp vẫn đang không ngừng truyền tới. Không có tiếng gió thổi bên ngoài, không có tiếng chó sủa. Giống như một lớp bùn vô hình, sự im lặng cứ len lỏi trườn vào tai tôi và nút chặt chúng lại. Tôi phải nuốt nước bọt vài lần mới xua tan hết.

Một chút âm nhạc sẽ khiến mọi thứ dễ chịu hơn. Nhạc chủ đề phim “A place summer”, “Edelweiss”, “Moon river”… bất cứ bài gì cũng được. Tôi không kén chọn đâu. Chỉ cần một chút âm nhạc thôi. Cơ mà tôi đâu thể bật máy hát trong nhà người ta lên khi chưa được phép chứ. Tôi lại lia tầm mắt ra xung quanh xem có cái gì để đọc không, nhưng cũng chẳng kiếm ra được một tờ báo hay quyển tạp chí nào. Tôi lục tung cả túi đeo vai của mình xem. Thường thì tôi hay mang theo một cuốn sách bìa mềm đọc dở, nhưng hôm nay lại không.

Mỗi lần chúng tôi hẹn hò, tôi và bạn gái thường vờ như cả hai đi đến thư viện tự học, và tôi liền sắp sẵn những món học cụ trong cặp mình nhằm vờ vịt cho giống. Y như một tên tội phạm nghiệp dư cố tạo nên bằng chứng ngoại phạm mong manh. Thành thử cuốn sách duy nhất tôi mang trong túi ngày hôm đó là một cuốn sách tham khảo cho độc giả về “Ngôn Ngữ và Văn Học Nhật Bản”. Tôi đành miễn cưỡng lôi nó ra và bắt đầu lật thử vài trang. Tôi không phải là loại mà người ta coi là một độc giả, một độc giả chú mục và có hệ thống, mà đúng hơn là loại cảm thấy khó để thời gian trôi qua mà không có gì để đọc. Tôi không bao giờ có thể chỉ ngồi yên một chỗ, đờ ra và im lặng. Tôi phải giở đôi trang sách hoặc nghe nhạc, không này thì nọ. Khi không có sách vở gì xung quanh, thì tôi chộp lấy bất cứ bản in nào. Tôi từng đọc một cuốn danh bạ điện thoại, một tập hướng dẫn sử dụng cho bàn ủi hơi nước. So với những loại tài liệu đó, thì thà đọc sách tham khảo về tiếng Nhật còn vui hơn nhiều.

Tôi lật đại qua các tác phẩm và tiểu luận trong sách. Vài tác phẩm là của các tác giả nước ngoài, nhưng phần lớn là các nhà văn hiện đại nổi tiếng của Nhật Bản, Ryunosuke Akutagawa, Junichiro Tanizaki, Kobo Abe, và mấy người đại loại thế. Mỗi tác phẩm – tất cả đều là trích đoạn, trừ một vài truyện cực ngắn – đều được thêm vào vài câu hỏi. Hầu như những câu hỏi này đều hoàn toàn vô nghĩa. Với mấy câu vô nghĩa kiểu này, thật khó (hoặc bó tay) để tìm ra một câu trả lời đúng hay không. Tôi dám ngờ luôn mấy ông bà đi biên soạn ra những câu hỏi kiểu vầy liệu có chắc sẽ trả lời được không đã? Mấy câu dạng: “Từ đoạn trích trên, anh/chị có thể rút ra được quan điểm của tác giả về cuộc chiến?” hoặc “Khi tác giả miêu tả vâng trăng khi khuyết khi tròn, những hiệu ứng ẩn dụ nào đã được tạo ra?” thì bạn muốn chém gió kiểu gì mà chả được. Nếu bạn bảo rằng mô tả vầng trăng khi khuyết khi tròn chỉ đơn giản là mô tả mặt trăng khi khuyết khi tròn thôi chứ sao, chả có hiệu ứng ẩn dụ nào sất, cũng đâu ai dám chắc như gạch câu trả lời của bạn là sai. Tất nhiên là đã có sẵn một câu trả lời tương đối hợp lý, nhưng tôi thật lòng không nghĩ rằng việc đi đến một câu trả lời tương đối hợp lý là một trong những mục tiêu của việc nghiên cứu văn học.

Cứ như vậy, tôi đã giết thời gian bằng cách cố gắng đưa ra câu trả lời cho từng câu hỏi. Và trong hầu hết các trường hợp, những gì xuất hiện trong tâm trí – bộ não của tôi vẫn đang không ngừng lớn dần lên và phát triển, vùng vẫy mỗi ngày để đạt được một loại độc lập tâm lý – là những câu trả lời tương đối vô lý nhưng không hẳn là sai. Có lẽ xu hướng ấy là một trong những lý do khiến điểm số của tôi ở trường không cải thiện nhiều.

Trong lúc “buổi hỏi đáp” này vẫn tiếp diễn, ông anh của bồ tôi đã trở lại phòng khách. Tóc gã vẫn còn chĩa tứ phía, nhưng có lẽ vì được đánh chén một bữa sáng no nê nên ánh mắt không còn lờ đờ như trước. Gã cầm một chiếc cốc lớn màu trắng có hình một chiếc máy bay chiến đấu của Đức trong Thế chiến thứ nhất, với hai khẩu súng máy phía trước buồng lái, được in ở bên cạnh. Chắc đây phải là chiếc cốc đặc biệt của riêng ông anh này. Tôi không thể hình dung bạn gái của mình uống nước từ một cái cốc như thế.

“Chú mày thực sự không muốn uống một tí cà phê hả?”

Tôi lắc đầu. “Không. Em ổn thật mà.”

Chiếc áo len gã mặc bị dính đầy vụn bánh mì. Quần ở chỗ đầu gối cũng y như vậy. Có lẽ gã đã đói kinh lên được và ngấu nghiến bọn bánh mì nướng đến mức không quan tâm đến những mẩu vụn vung vãi khắp nơi. Tôi có thể tưởng tượng được bồ tôi hẳn phải ngứa mắt lắm, vì cô nàng lúc nào cũng nom rất gọn gàng và ngăn nắp. Tôi cũng thích gọn gàng và ngăn nắp, tôi nghĩ chính tính cách tương đồng này là một phần lý do vì sao chúng tôi hợp nhau.

Anh trai cô liếc lên tường. Có một chiếc đồng hồ được treo ở đó thật. Kim đồng hồ đang chỉ gần mười một giờ rưỡi.

“Con bé chưa về à? Nó đi đâu được nhỉ?”

Tôi không lên tiếng đáp lại.

“Chú mày đang đọc gì thế?”

“Một quyển sách tham khảo cho môn tiếng Nhật của học sinh bọn em thôi.”

“Hừm,” gã nói, hơi nghiêng nghiêng đầu. “Có gì thú vị không?”

“Không có gì đặc biệt cả. Chỉ là em không có gì khác để đọc thôi.”

“Cho anh xem được không?”

Tôi thảy cho gã quyển sách qua mặt bàn uống trà. Đổi cốc cà phê qua tay trái, gã cầm cuốn sách bằng tay phải. Tôi đã lo rằng gã có thể làm đổ cà phê vào nó. Nó nom như sắp tràn hẳn ra đến nơi nhưng gã đã không làm đổ. Gã đặt cốc xuống bàn kính với một tiếng cạch, cầm quyển sách với cả hai tay và bắt đầu lật qua.

“Chú mày đang đọc đến phần nào?”

“Em đang đọc dở ‘Bánh răng’ của cụ Akutagawa. Trong này chỉ có một đoạn thôi, không có đủ cả truyện.”

Gã đưa ra suy nghĩ của mình: “Truyện ‘Bánh răng’ anh chưa bao giờ mó tới. Dù hồi trước anh cũng có đọc “Kappa” từ lâu lắc lâu lơ rồi. Ê nhưng mà không phải ‘Bánh răng’ là một truyện rất u ám à?”

“Chính nó. Ngài ấy đã viết nó ngay trước khi chết.” Akutagawa đã bị sốc thuốc ngủ vào năm ba mươi lăm tuổi. Các ghi chú trong quyển tham khảo này có nói là “Bánh răng” đã được xuất bản sau khi tác giả chết vào năm 1927. Truyện này gần như là một lá thư tuyệt mệnh và di chúc cuối cùng.

“Hừm,” ông anh của bồ tôi nói. “Chú mày có thể đọc nó cho anh nghe không?”

Tôi ngạc nhiên nhìn gã. “Ý anh là đọc to lên á?”

received_188707295555589
Ảnh minh họa của Đặng Hồng Quân (Lê La Quà Vặt)

“Phải. Anh luôn thích có người đọc cho anh nghe. Anh không phải là một người đọc giỏi lắm đâu.”

“Nhưng em cũng không phải là một người đọc hay đâu.”

“Anh không bận tâm về điều đó. Chú mày cũng không cần phải là một tay đọc to xuất chúng gì. Chỉ cần đọc đúng theo thứ tự rồi sẽ ô kê thôi. Ý anh là, bọn mình trông đâu giống như có cái gì khác mà làm.”

“Có điều nó là một câu chuyện rất u uất và nặng nề,” tôi trả lời.

“Thi thoảng anh mày lại khoái nghe mấy thể loại ấy đấy. Một kiểu dĩ độc trị độc thôi.”

Gã đẩy quyển sách lại về hướng tôi, nhấc cốc cà phê có in hình chiếc may bay chiến đấu và Thập tự Sắt lên nhấp một ngụm. Rồi gã lại thả mình ra ghế bành và chờ truyện bắt đầu đọc.

Thế là cuối cùng ngày Chúa-nhật hôm ấy tôi lại đọc lớn trích đoạn “Bánh răng” của Akutagawa cho lão anh quái đản của bạn gái tôi nghe. Ban đầu tôi có hơi lưỡng lự, nhưng rồi dần trở nên nhiệt tình với việc này. Quyển sách tham khảo có in hai phần cuối của truyện – là “Đèn đỏ” và “Máy bay”, tuy nhiên tôi chỉ đọc “Máy bay” mà thôi. Nó dài khoảng tám trang, và kết thúc với dòng “Sao trên đời không có ai đủ tốt để siết lấy cổ tôi khi tôi đang ngủ?” Akutagawa đã tự sát ngay sau khi đặt bút viết ra những dòng này.

Tôi đọc xong, nhưng vẫn chưa có ai trong nhà về đến. Điện thoại không đổ chuông, và cũng chẳng có tiếng quạ nào réo bên ngoài. Xung quanh hoàn toàn vắng lặng như tờ. Ánh nắng mùa thu làm phòng khách sáng bừng lên qua tấm rèm ren. Thời gian đơn độc bình thản chầm chậm trôi về phía trước. Anh trai của bạn gái tôi vẫn ngồi đó, khoanh tay, mắt nhắm lại, như thể thưởng thức những dòng cuối cùng tôi đọc: “Tôi không còn đủ sức để viết nữa. Thật đau đớn xiết bao, vượt qua khỏi mọi ngôn từ, đặng tiếp tục sống ngay cả khi phải cảm thấy như thế này. Sao trên đời không có ai đủ tốt để siết lấy cổ tôi khi tôi đang ngủ?”

Dù có thích đoạn văn này hay không, thì đây rõ ràng cũng không phải là câu chuyện phù hợp để đọc vào một sáng Chúa-nhật đẹp trời. Tôi gấp cuốn sách lại và liếc nhìn đồng hồ treo tường: đã hơn mười hai giờ.

“Chắc là em đã nhầm lẫn gì đó rồi,” tôi nói. “Thôi, em nghĩ là em nên xin phép về ạ.” Tôi đứng dậy khỏi ghế sofa. Từ bé mẹ tôi đã dặn tôi rất kỹ không được làm phiền nhà người khác khi đến bữa cơm. Là tốt hay xấu thì điều này cũng đã thấm nhuần vào con người tôi, trở thành một phản xạ.

“Chú mày đã chờ lâu thế rồi, sao không ngồi nán lại thêm nửa tiếng nữa?” gã anh trai hỏi. “Chú cứ đợi thêm ba mươi phút nữa, rồi nếu con bé kia vẫn chưa về nhà thì chú đi cũng chưa muộn?”

Lời nói của gã rất lạ lùng, tôi đành ngồi xuống và đặt tay lên đùi thêm lần nữa.

“Chú mày rất giỏi bộ môn đọc thành tiếng đấy.” Gã nói, giọng điệu có vẻ rất ấn tượng. “Đã ai bẩu với chú mày điều đó chưa?”

Tôi lắc lắc đầu.

“Trừ phi thật sự có thể nắm bắt được nội dung, bằng không chú mày chả đọc được ra hồn như thế đâu. Phần cuối cùng đặc biệt xuất sắc luôn đấy!”

“Ơ…” tôi lơ mơ đáp lại, cảm giác gò má mình đỏ ửng lên chút đỉnh. Lời khen này có vẻ sai sai làm cho tôi cảm thấy không được thoải mái lắm. Nhưng tôi có cảm tưởng là mình sẽ tiếp tục trò chuyện với gã nửa tiếng nữa. Dường như gã đang cần một người để nói chuyện.

Gã chắp thật chặt hai lòng bàn tay trước mặt như đang cầu nguyện, rồi bất thình lình phun ra một câu:Câu này nghe có vẻ quái gở nhưng đã bao giờ ký ức của chú mày ngừng lại chưa?”

“Ngừng lại?”

“Ý anh ở đây là, đại loại như, từ lúc này đến lúc khác bỗng dưng chú mày không nhớ được mình đã ở đâu và đã làm cái gì ấy.”

Tôi lắc đầu. “Em đồ là mình chưa từng có trải nghiệm nào như thế.”

“Nghĩa là chú mày nhớ chi tiết thời gian và mọi việc mình đã làm hử?”

“Nếu đó là những việc mới diễn ra gần đây thì em có thể cho là vậy.”

“Hừm,” gã cảm khái và đưa tay gãi gãi đầu trong một chốc, rồi cất lời. “Anh thì cho thế là thường thôi.”

Tôi đợi gã nói tiếp.

“Thật ra í, anh đã từng vài lần bị mất trí nhớ. Giống như lúc 3 giờ chiều ký ức của anh bị cắt bỏ, và chuyện tiếp theo anh nhận thức được đã là 7 giờ tối rồi. Anh không thể nhớ ra mình đã ở đâu hay đã làm cái quái gì trong bốn tiếng đó. Mà thật ra chả có sự vụ gì đặc biệt đã xảy đến với anh. Kiểu như anh bị tương một cú vào đầu hay say xỉn hay bất cứ thứ gì đại loại thế. Anh chỉ làm những việc bình thường và không hề có cảnh báo gì trí nhớ bị cắt luôn. Anh không thể dự đoán trước lúc nó sắp xảy ra. Mà anh cũng không hề có chút manh mối gì sẽ bị thế bao nhiêu giờ, bao nhiêu ngày hay thậm chí là trí nhớ có bị bốc hơi luôn không.”

“Em hiểu rồi,” tôi khẽ lẩm bẩm, để gã biết tôi còn đang theo dõi câu chuyện.

“Cứ tưởng tượng mà xem, chú đã ghi lại một bản giao hưởng của Mozart trên băng thâu âm. Rồi khi chú phát lại thì nhạc lại nhảy từ giữa phần thứ hai sang giữa phần thứ ba, còn những đoạn nên ở giữa thì biến mất. Nó y như vậy đấy. Khi anh bảo “biến mất” không có nghĩa là những đoạn nghỉ của cuốn băng. Mà là nó hoàn toàn bốc hơi. Chú có hiểu điều anh vừa nói không?”

“Chắc là có,” tôi nói bằng giọng  không chắc lắm.

“Nếu là âm nhạc thì chỉ bất tiện chút thôi, chứ chả tai hại gì mấy, đúng không? Nhưng nếu chuyện đó xảy ra trong đời thật, thì phiền lắm, tin anh đi… Chú hiểu anh nói gì không?”

Tôi gật gật đầu.

“Như là ta đi đến mặt tối của mặt trăng rồi trở về tay không ấy.”

Tôi lại gật gật đầu. Dù không dám chắc là mình hoàn toàn nắm rõ được sự tương đồng này.

“Nguyên nhân gây ra nó là một sự rối loạn di truyền, và những trường hợp rõ rệt như của anh cực kỳ hiếm. Một trong số hàng chục ngàn người mới bị chứng rối loạn này. Và tất nhiên giữa họ còn có sự khác nhau. Hồi năm cuối cấp hai, anh đã được bác sĩ thần kinh tại bệnh viện đại học khám cho. Mẹ anh đưa anh đi.”

Gã ngừng lại, rồi tiếp tục thao thao: “Nói cách khác, nó là một tình trạng nơi chuỗi ký ức của ta bị làm rối tung beng lên. Một phần trí nhớ của anh bị cất vào ngăn kéo không chính xác. Mà ta gần như không thể, hay thật tình không thể tìm thấy nó thêm lần nào nữa. Họ đã giải thích với anh như thế. Nó không phải là kiểu rối loạn khủng khiếp có thể gây tử vong hoặc làm ta từ từ mất trí. Nhưng nó gây ra phiền nhiễu trong sinh hoạt thường ngày. Họ cho anh biết tên của chứng rối loạn rồi kê cho anh ít thuốc, nhưng mớ thuốc thang này cũng vô dụng thôi. Toàn giả dược cả.”

Trong một khoảnh khắc, ông anh của bồ tôi chợt im lặng, soi kỹ tôi để xem tôi có hiểu không. Hệt như gã đang lảng vảng xung quanh một ngôi nhà và rình mò qua cửa sổ.

“Bây giờ anh bị như thế này một, hai lần trong năm,” cuối cùng gã cũng cất tiếng. Tuy không thường xuyên nhưng vấn đề không nằm ở tần số. Lúc nó thực sự xảy ra mới gây rắc rối nghiêm trọng. Dù cho việc này hiếm khi tiếp diễn thì cũng quá sức tệ vì trí nhớ bị mất và không biết thời điểm nào chuyện đó sẽ xảy ra. Chú mày hiểu điều này phải không?”

“À vâng…” tôi mơ hồ đáp lại. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm để theo dõi câu chuyện kỳ quặc và ào ào của ông anh trai này.

“Kiểu như là khi điều đó xảy đến với anh, trí nhớ của anh đột ngột bị cắt đứt, và trong khoảng thời gian ấy anh đã tóm lấy một cái búa tổ bố và giáng vào đầu một đứa nào đó, đứa mà anh ghét cay ghét đắng từ trước đến giờ. Chú mày đâu thể xóa sổ nó chỉ bằng việc liên thiên múa mép rằng, “Ái chà, giờ tôi thấy mắc cỡ ghê”. Đúng chưa nào?”

“Em cho là vậy.”

“Chà, đám cớm sẽ nhảy ngay vào cuộc và nếu anh nói với họ, “Vấn đề là trí nhớ của tôi bốc hơi mất tiêu rồi,” thì họ cũng đời nào chấp nhận được chuyện đó. Phỏng?”

Tôi gật đầu.

“Kỳ thực là có nhiều người mà anh không ưa. Những kẻ thật sự làm anh mày phát cáu lên được. Ông già anh là một trong số đó. Nhưng khi anh tỉnh táo thì anh đời nào dám cầm búa nện đầu ngài thân phụ đáng kính ấy, phải không nào? Anh vẫn có thể kiểm soát bản thân anh thôi. Nhưng một khi trí nhớ đã bay hơi thì thực tình anh không biết là mình đang làm cái gì nữa.”

Tôi nghiêng nghiêng đầu, không đưa ra ý kiến gì.

“Mấy lão bác sĩ cứ bảo là chả bao giờ có chuyện như thế xảy ra đâu mà lo. Làm gì có chuyện, trong lúc trí nhớ của anh mải chơi cút bắt, có kẻ sẽ chiếm lấy nhân cách của anh. Y như truyện Bác sĩ Jekyll và Ông Hyde ấy. Anh luôn luôn là chính mình. Chỉ có điều như đã bỏ qua mất đoạn băng thâu âm giữa phần hai đến giữa phần ba. Anh vẫn luôn kiểm soát tốt bản thân mình và thường vẫn xử sự bình thường. Mozart không thể nào đột ngột biến thành Stravinsky. Mozart vẫn chỉ là Mozart – chỉ là một phần nào đó đã biến mất vào ngăn kéo ở tận đẩu đâu.”

Gã nhấc cốc cà phê lên và hớp một ngụm từ chiếc cốc phi cơ chiến đấu. Tôi ước gì mình cũng được làm một tách cà phê.

“Chí ít thì bác sĩ đã nói thế với anh. Nhưng tin lời bác sĩ nói thì ngang đổ thóc giống ra mà ăn. Lúc đó anh mới học cấp ba thôi nên chuyện đó làm anh sợ vãi lúa, anh nghĩ rằng mình có thể cầm búa phang một đứa bạn cùng lớp mà không nhớ ra được mình đã làm cái quái gì. Ý anh mày là, khi chú mày học cấp ba, chú vẫn không biết bản thân chú là ai, chả phải ư? Lại thêm cả nỗi thống khổ vì bị mất trí nhớ, thì làm sao có thể chịu đựng nổi.”

Tôi lặng lẽ gật đầu. Có thể gã đã đúng.

“Anh mày gần như dừng cả việc đến trường vì mấy chuyện đó,” ông anh bồ tôi tiếp tục. “Càng nghĩ về nó, anh lại càng thấy sợ hãi nên không thể nào đi học tiếp được nữa. Mẹ anh đã cố gắng giải thích cho giáo viên của anh, và dù anh vắng mặt quá nhiều, họ vẫn tạo ngoại lệ cho anh được tốt nghiệp. Anh đã mường tượng nhà trường muốn đá một thằng học sinh có vấn đề như anh đi càng sớm càng tốt. Nhưng anh không học tiếp lên đại học. Điểm số của anh không tệ, anh vẫn có thể được nhận vào trường đại học nào đó, nhưng anh không có đủ tự tin để bước ra ngoài. Kể từ ngày đó, anh cứ loay hoay vất vưởng ở trong nhà. Anh cũng có dắt chó đi dạo, nhưng nếu không có chuyện gì khác thì rất khó cạy anh ra khỏi nhà. Giờ đây anh không còn cảm thấy hoảng loạn hay bất cứ thứ gì từa tựa thế nữa. Nếu mọi thứ dịu xuống một chút nữa, anh nghĩ có lẽ anh sẽ bắt đầu đi học đại học.”

Sau đó gã im lặng, và tôi cũng vậy. Tôi không biết phải nói gì. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao bạn gái mình không bao giờ muốn kể về ông anh trai của cô ấy.

“Cảm ơn chú mày đã đọc truyện cho anh nghe,” gã nói. “Bánh răng” rất hay. Nó là một truyện cực kỳ u ám thì hẳn rồi, nhưng có nhiều đoạn viết thật sự chạm đến được bên trong anh. Chú có chắc là chú không muốn cà-phê không? Chỉ mất cỡ một phút là có ngay thôi.”

“Không ạ, em được rồi mà. Tốt hơn hết là em nên về sớm.”

Gã lại liếc nhìn đồng hồ trên tường. “Sao chú không ngồi chờ đến một giờ, nếu không có ai về thì đi luôn cũng được. Anh sẽ về phòng ở tầng hai để chú mày được tự nhiên. Không cần phải bận tâm về anh đâu.”

Tôi gật đầu.

“Hẹn hò có thú vị không, với Sayoko ấy?” ông anh bồ tôi hỏi lại thêm lần nữa.

Tôi gật đầu. “Thú vị lắm mà.”

“Chỗ nào?”

“Có rất nhiều điều về em ấy mà em không biết,” tôi đáp lại. Và tôi nghĩ đó là một câu trả lời cực kỳ thành thực.

“Hừmmm” gã kéo dài giọng, nghiền ngẫm câu trả lời đó. “Giờ do chú mày nhắc thì anh mới thấy. Con bé là em gái anh, có quan hệ huyết thống, cùng một mã gien và tất cả mọi thứ, và bọn anh đã sống với nhau dưới một mái nhà kể từ khi con bé được sinh ra, nhưng vẫn còn vô số điều anh không hiểu về con bé. Anh không hiểu nó – diễn đạt thế nào nhỉ? Chuyện gì đã khiến nó cư xử như thế? Vậy nên anh sẽ rất sướng nếu chú mày có thể tìm hiểu những chuyện đó cho anh. Dù có thể có nhiều điều mà tốt nhất là đừng nên chúi mũi vào làm gì.”

Gã cầm cốc cà-phê trên tay, và rời khỏi ghế bành.

“Dù sao thì cũng thử cố gắng hết sức nhé!” ông anh bồ tôi nói. Gã khẽ vẫy vẫy tay kia với tôi và đi ra khỏi phòng.

“Cảm ơn anh,” tôi đáp lại.

Đến một giờ chiều vẫn chẳng có dấu hiệu trở lại của bất cứ ai trong nhà, nên tôi đã một mình lẳng lặng đi ra cửa trước, xỏ giày thể thao vào và ra về. Tôi băng qua rừng thông đi đến ga, nhảy lên tàu điện và về nhà. Đó là một chiều Chúa-nhật mùa Thu tĩnh lặng và yên ắng.

Tôi nhận được cuộc gọi của bạn gái mình lúc hai giờ chiều. “Ơ, anh đã bảo là sẽ đến vào Chủ Nhật tuần sau cơ mà,” cô nói. Tôi không hoàn toàn bị thuyết phục vì điều đó, nhưng cô ấy nói chắc như đinh đóng cột nên có khi cô đã đúng thật. Tôi khẽ xin lỗi cô vì đã đến nhà cô sớm hẳn cả tuần.

Tôi cũng không hề nhắc đến việc trong lúc chờ cô quay về nhà thì tôi và anh trai cô đã có một buổi trò chuyện – có lẽ “trò chuyện” không phải là một cụm từ đúng, vì căn bản chỉ có tôi lắng nghe anh trai cô nói. Tôi hiểu rằng tốt nhất mình không nên kể vụ đã đọc “Bánh răng” của Akutagawa cho anh cô nghe, và cả việc gã đã tiết lộ với tôi chuyện gã bị bệnh mất trí nhớ nữa. Nếu gã đã không nói với cô ấy những chuyện đó, thì tôi cũng chẳng nên kể làm gì.

*

Mười tám năm sau, tôi có dịp gặp lại ông anh trai cô thêm lần nữa. Đó là một ngày giữa tháng Mười. Tôi đã ba nhăm, đang sống ở Tokyo cùng với vợ. Công việc bận bịu cuốn tôi vào guồng xoáy hối hả mỗi ngày, và tôi chẳng có mấy khi trở về Kobe nữa.

Lúc ấy trời ngả xế chiều, tôi đi lên một ngọn đồi ở Shibuya để lấy chiếc đồng hồ vừa sửa. Đang thả bộ dọc theo con đường và miên man suy nghĩ, thì người đàn ông tôi vừa lướt qua bỗng quay ngược lại và gọi tôi.

“Xin lỗi cậu,” người ấy cất tiếng gọi. Anh ta có một ngữ điệu đặc sệt vùng Kansai không lẫn đi đâu được. Tôi dừng chân, quay đầu lại và trông thấy một người đàn ông tôi vẫn chưa nhận ra là ai. Anh ta nom lớn hơn tôi chút đỉnh, và cao hơn tí. Trên người anh khoác một chiếc áo vải tuýt dày màu xám, bên trong là lớp áo len cashmere màu kem cổ tròn và mặc quần chinos màu nâu. Tóc anh ta cắt ngắn, và anh có vóc người rắn chắc của một vận động viên đi kèm làn da sẫm màu rám nắng (trông giống như dân chơi golf). Các đường nét trên gương mặt anh ta tuy không quá tinh xảo nhưng vẫn cực kỳ thu hút. Tôi thấy anh khá đẹp trai. Có cảm tưởng đây là một người hài lòng với cuộc sống của mình. Một người tôi đoán rằng đã được nuôi dạy rất tốt.

“Tôi không nhớ ra tên của cậu, nhưng cậu có phải là cậu bạn trai ngày xưa của em gái tôi không?” anh ta nói.

Tôi cố nhìn kỹ lại mặt anh ta. Nhưng chẳng hiện lên ký ức nào về nó.

“Em gái anh ư?”

“Sayoko ấy,” anh ta nói. “Tôi nhớ hai người từng học chung một lớp thời cấp ba mà.”

Ánh mắt tôi dừng lại nơi vệt tương cà nhỏ dây trên mặt trước chiếc áo len cashmere màu kem của anh. Anh ăn vận rất chỉn chu, nên vết bẩn nhỏ ấy đã làm tôi thấy lạc quẻ. Và rồi tôi bừng nhớ ra – ông anh trai với đôi mắt lờ đờ buồn ngủ bận chiếc áo len cổ dão màu xanh hải quân dính đầy vụn bánh mì.

“Em nhớ ra rồi,” tôi thốt lên. “Anh là anh trai của Sayoko. Chúng mình có gặp nhau một lần ở nhà anh. Đúng chưa?”

“Chính xác rồi. Chú còn đọc truyện ‘Bánh răng’ của cụ Akutagawa cho anh nghe nữa mà.”

Tôi cười lớn. “Nhưng em thấy kinh ngạc là anh lại có thể nhận ra em giữa biển người này đấy. Chúng ta chỉ mới gặp nhau có nhõn một lần duy nhất, mà lại còn lâu lắc lâu lơ nữa chứ.”

“Anh cũng không dám chắc lắm tại sao, nhưng anh chả quên được mặt ai bao giờ. Với lại nhìn chú cũng không khác xưa là mấy.”

“Nhưng anh lại thay đổi nhiều lắm anh ạ,” tôi nói với anh. “Giờ nhìn anh khác hẳn lúc trước.”

“Ừm, bao chuyện đã qua như nước chảy qua cầu mà,” anh mỉm cười đáp lại. “Chú cũng biết rồi đấy, mọi thứ đã khá rối rắm với anh trong một khoảng thời gian.”

“Sayoko giờ sao rồi anh?” tôi hỏi.

Anh bối rối nhìn sang bên, từ từ hít vào rồi thở hắt ra. Như thể đang đo thử mật độ của bầu không khí xung quanh mình.

“Thay vì cứ đứng mãi trên phố như thế này, sao ta không kiếm một chỗ nào vừa ngồi vừa nói chuyện? Nếu như chú không mắc việc gì,” anh nói.

“Em không mắc gì cả,” tôi đáp lời anh ấy.

“Sayoko đã qua đời rồi,” anh lặng lẽ nói. Hai chúng tôi đang ở trong một tiệm cà-phê gần đó, ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn nhựa.

“Qua… qua đời rồi?”

“Em ấy mất rồi. Đã được ba năm.”

Tôi trở nên câm nín. Cảm giác như lưỡi của mình sưng phồng lên trong miệng. Tôi cố nuốt nước bọt đang trào lên nhưng vô ích.

Lần cuối cùng tôi gặp Sayoko là khi cô hai mươi tuổi, mới lấy được bằng lái ô-tô, và cô đã chở hai đứa lên đỉnh núi tuyết Rokkō ở Kobe trên con xe Toyota Crown mui cứng màu trắng của bố cô. Tay lái của cô còn lóng ngóng, nhưng nom cô rất phấn khích khi được lái xe. Như dự đoán, lúc đó radio đang phát nhạc của The Beatles. Tôi còn nhớ rất rõ. Là bài “Hello, Good-bye”. Em nói Tạm biệt, và anh đáp Xin chào. Như tôi đã kể, hồi đó đi đâu cũng gặp âm nhạc của họ.

Tôi không hiểu nổi cái thực tế rằng cô ấy đã mất và không còn tồn tại trên thế gian này nữa. Tôi không chắc có thể diễn tả được cảm giác ấy – nó quá vô thực.

“Cậu ấy đã… mất ra sao?” tôi cất giọng hỏi, miệng khô đắng.

“Con bé đã tự sát,” anh nói, như đang cẩn trọng lựa lấy từng lời. “Năm hai mươi sáu tuổi, nó kết hôn với một đồng nghiệp nam cùng công ty bảo hiểm nơi nó đang làm việc, rồi có với nhau hai mặt con, rồi tự tử. Nó chỉ mới vừa ba mươi hai.”

“Cô ấy bỏ lại mấy đứa nhỏ sao?”

Ông anh bạn gái cũ tôi gật đầu. “Đứa lớn là trai, còn đứa nhỏ là gái. Chồng của con bé vẫn đang nuôi dưỡng chúng. Thỉnh thoảng anh lại ghé thăm ba bố con nó. Bọn trẻ ngoan lắm.”

Tôi vẫn thấy khó khăn để nắm bắt hiện thực của tất cả mọi chuyện. Bạn gái cũ của tôi đã tự sát, để lại hai đứa trẻ ư?

“Sao cậu ấy lại làm thế?”

Anh lắc đầu. “Chẳng ai rõ sự tình vì sao. Con bé không hề tỏ ra trầm uất hay có vấn đề gì. Nó vẫn khỏe mạnh, tình cảm giữa hai vợ chồng cũng rất tốt, và nhất là con bé rất yêu thương hai đứa con mình. Nó tuyệt nhiên không để lại một lời nhắn nhủ hay bất cứ thứ gì như thế. Bác sĩ riêng đã kê thuốc ngủ cho con bé, nó cứ góp nhặt lại từng đợt rồi nốc luôn trong một lúc. Nên có vẻ Sayoko đã lên ý định tự sát từ trước. Con bé muốn ra đi, nên trong nửa năm trời nó đã giấu từng chút từng chút một lượng thuốc ngủ. Chắc chắn đó không phải là một thôi thúc nhất thời.”

Tôi im lặng một lúc. Và anh cũng vậy. Cả hai chúng tôi đều lạc vào những suy nghĩ của riêng mình.

Vào cái ngày ấy, trong một quán cà-phê trên đỉnh núi tuyết Rokkō, tôi và bạn gái cũ đã chia tay nhau. Tôi đi học đại học ở Tokyo và phải lòng một cô gái khác ở đó. Tôi có trực tiếp thú nhận tất cả với cô, và cô, chỉ đáp lại duy nhất một lời rồi cầm lấy túi xách, đứng dậy, vội vã rời khỏi quán cà-phê mà không thèm ngoảnh đầu nhìn lại.

Tôi đi cáp treo xuống núi một mình. Chắc cô ấy đã lái chiếc Toyota Crown màu trắng về nhà rồi. Đó là một ngày nắng đẹp tuyệt vời, và tôi nhớ rõ mình đã được ngắm nhìn toàn cảnh của thành phố Kobe qua cửa sổ khoang cáp treo. Một quang cảnh kinh diễm.

Sayoko đi học đại học, kiếm được việc ở công ty bảo hiểm lớn, lấy một trong số những đồng nghiệp nam ở đó làm chồng, sinh ra hai đứa trẻ, góp nhặt từng viên thuốc ngủ một, và tự sát.

Có thể sớm muộn gì tôi cũng phải nói lời chia tay cô. Nhưng tôi vẫn có những kỷ niệm đẹp đẽ trong những năm tháng chúng tôi ở bên nhau. Cô là người bạn gái đầu tiên của tôi, và tôi thích cô nhiều lắm. Cô cũng là người đầu tiên đã dạy tôi về cơ thể phụ nữ. Chúng tôi đã cùng nhau trải nghiệm những điều mới mẻ, và chia sẻ cùng nhau những khoảng thời gian tuyệt diệu, những điều chỉ có thể diễn ra duy nhất một lần trong đời khi bạn còn ở tuổi thiếu niên.

Thật khó cho tôi để nói những lời này bây giờ, nhưng cô chưa từng ngân lên hồi chuông đặc biệt ấy bên tai tôi. Tôi đã lắng nghe kỹ hết sức có thể, nhưng nó vẫn chưa hề vang lên lần nào cả. Đáng buồn làm sao. Thế mà cô gái tôi quen ở Tokyo lại làm được điều đó. Đây không phải là việc có thể tự do lựa chọn theo lý trí hay đạo đức. Hoặc là nó vang lên, hoặc không có gì cả. Khi tiếng chuông vang lên, nó sẽ vang theo cách của riêng mình, trong ý thức hoặc tận sâu thẳm tâm hồn.

“Chú biết không,” anh trai bạn gái cũ của tôi lên tiếng, “anh chưa bao giờ, dù chỉ một lần, nảy ra suy nghĩ rằng Sayoko sẽ tự tử, ngay cả khi tất cả mọi người trên cõi đời này đều tự sát. Nhưng hóa ra là anh đã lầm, anh đã tin rằng con bé vẫn sẽ luôn ở đó, sống và sống thật tốt. Anh không hề thấy con bé giống típ người dễ bị vỡ mộng hay có ẩn tàng bóng tối nào bên trong. Thú thật, anh còn cho là nó hơi nông cạn nữa. Anh chưa bao giờ chú ý đến con bé, mà nó cũng chưa bao giờ để ý gì đến anh, anh nghĩ thế đấy. Dường như bọn anh không cùng bước sóng. Thật ra anh có quan hệ tốt hơn với đứa em gái còn lại. Nhưng giờ đây anh có cảm giác như thể mình đã làm ra điều gì đó rất khủng khiếp với Sayoko và điều đó làm anh đau không chịu nổi. Có lẽ anh chưa bao giờ thực sự biết rõ con bé. Chưa từng hiểu lấy một điều dù nhỏ nhất về nó. Có khi vì anh đã quá bận tâm với cuộc sống của chính mình. Dường như những kẻ như anh sẽ chẳng bao giờ đủ sức để cứu vớt lấy cuộc đời Sayoko, nhưng lẽ ra anh nên thử hiểu nó, dù không nhiều đi chăng nữa. Lúc này anh không thể chịu nổi. Anh đã quá kiêu căng, quá ngạo mạn.”

Tôi không thể nói gì được nữa. Có lẽ tôi cũng không hiểu gì về cô cả. Giống như anh trai cô, tôi đã quá chú tâm vào cuộc sống của riêng mình.

Anh trai Sayoko tiếp tục nói, “Trong quyển truyện chú đọc cho anh ngày đó, ‘Bánh răng’ của cụ Akutagawa ấy, có một đoạn mô tả các phi công đã hít thở không khí tận trên trời cao rồi thì họ không thể nào chịu nổi việc phải hít thở không khí ở dưới mặt đất này nữa… “Hội chứng máy bay,” người ta gọi nó như thế. Anh không biết là hội chứng đó có thật hay không nhưng anh vẫn nhớ như in những dòng đó.”

“Anh có thoát khỏi tình trạng đôi khi trí nhớ lại biến mất không?” tôi hỏi anh. Tôi nghĩ rằng mình phải cố thoát khỏi chủ đề về Sayoko.

“À đúng rồi, chuyện đó,” anh nói, mắt nheo nheo lại. “Quái lắm, nhưng bệnh đã tự nhiên biến mất. Các bác sĩ nói rằng nó là chứng rối loạn di truyền và theo thời gian bệnh sẽ tiến triển xấu dần đi. Nhưng nó đã xảy ra rồi biến mất như là anh chưa từng mắc phải bao giờ vậy. Y như một linh hồn xấu xa đã bị trục xuất ấy.”

“Em rất vui khi nghe điều đó,” tôi nói. Và tôi vui thật.

“Chuyện đó xảy ra không lâu sau lần anh gặp chú. Sau hôm ấy anh không còn trải qua bất cứ đợt mất trí nhớ nào nữa, dù chỉ là một lần. Anh cảm thấy bình tĩnh hơn, có thể vào một trường đại học tương đối đàng hoàng, tốt nghiệp, rồi sau đó tiếp quản công việc kinh doanh của bố anh. Mọi thứ phải đi đường vòng vài năm lúc đó, nhưng bây giờ anh được sống một cuộc sống bình thường rồi.”

“Em thật lòng rất mừng khi nghe điều đó,” tôi lặp lại. “Thế nên cuối cùng anh không phang búa vào đầu cụ thân phụ nhà anh.”

“Chú vẫn còn nhớ những chuyện ngớ ngẩn như vậy sao?” anh nói, và cười to. “Tuy nhiên, chú biết đấy, anh không thường đến Tokyo vì công việc đâu, và có vẻ lạ khi anh lại được tái ngộ chú như vầy giữa thành phố rộng lớn thế này đây. Anh không thể ngăn được cảm giác đã có điều gì đó đem chúng ta đến với nhau.”

“Chắc chắn rồi anh,” tôi đáp lại.

“Vậy còn chú thì sao? Chú vẫn sống luôn ở Tokyo đấy hả?”

“Em kết hôn ngay sau khi em tốt nghiệp đại học,” tôi nói với anh ta như thế, “và sống ở Tokyo từ đó đến giờ. Bây giờ em kiếm sống bằng nghề viết lách.”

“Nhà văn à?”

“Vâng, từa tựa như thế.”

“Chà, chú thật sự rất giỏi việc đọc to,” anh nói. “Có thể anh nói ra điều này sẽ trở thành gánh nặng cho chú, nhưng Sayoko vẫn luôn thương chú nhất trong tất cả những người yêu của nó.”

Tôi đã không trả lời lại. Và anh trai cô bạn gái cũ của tôi cũng không nói gì thêm nữa.

*

Và rồi chúng tôi nói lời tạm biệt. Tôi đi lấy chiếc đồng hồ đã sửa xong, còn người anh trai ấy cũng chầm chậm bước xuống đồi hướng về phía nhà ga Shibuya. Dáng người khoác chiếc áo dày vải tuýt của anh từ từ bị đám đông buổi tà dương nuốt chửng.

Tôi không gặp lại anh thêm lần nào nữa. Sự tình cờ đã đưa chúng tôi chạm mặt nhau lần thứ hai. Với gần hai mươi năm trôi giữa hai cuộc tao ngộ, giữa hai thành phố cách xa nhau ba trăm dặm. Chúng tôi đã cùng ngồi xuống, với một chiếc bàn ngăn giữa đôi bên, nhấm nháp tách cà-phê và trải lòng một vài chuyện. Nhưng đấy không phải là những chuyện mà bạn cứ thế mà tán gẫu khi uống cà-phê. Có điều gì đó quan trọng hơn trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, thứ dường như có ý nghĩa thực thụ với chúng tôi, trong cái hành động sống cho nốt đời mình. Tuy nhiên, nó chỉ là một dấu hiệu nhỏ được đem đến từ sự tình cờ. Chẳng có gì có thể liên kết chúng tôi lại theo một cách hệ thống và có tổ chức hơn. (Câu hỏi: Yếu tố nào trong cuộc sống của hai người đàn ông này đã được gợi ý một cách ẩn dụ thông qua cuộc gặp gỡ và trò chuyện của họ?)

*

Tôi không bao giờ được gặp lại cô nàng đáng yêu ngày nào nữa, người đã ôm chặt chiếc đĩa than “With The Beatles”. Thi thoảng tôi lại tự hỏi, có phải nàng vẫn đang vội vã rảo bước xuống dãy hành lang lờ mờ tối của trường trung học năm 1964, với gấu váy rung rinh mỗi khi nàng bước? Đến tận bây giờ vẫn mười sáu tuổi, cầm chiếc album có tấm ảnh bìa tuyệt vời chụp nửa tối nửa sáng John, Paul, Geogre, và Ringo, ôm lấy thật chặt như thể đặt cả mạng mình vào đó.

FIN.

(Bản dịch tiếng Anh của Phillip Gabriel đăng trên The New Yorker)

Nguyễn Thảo Trang dịch

Người góp chữ

Nguyễn Thảo Trang

Kỳ lân yêu kem chocolate bạc hà.

Bạn nghĩ sao?