Một năm đọc sách: 2019 – năm của những nhà văn đồng tính bị bỏ rơi

Thời gian đọc: 25 phút

Thời gian là một khái niệm kỳ lạ. Bởi lẽ thời gian, một mặt, luôn trôi theo một chiều, nghĩa là ta sinh ra, lớn lên, già đi và chết, theo một con đường không thể thay đổi, không có đường quay lại. Tất nhiên chúng ta có một số lý thuyết bảo chúng ta rằng thời gian không nhất thiết là một chiều. Nhưng tạm thời ấy là thứ chúng ta trải nghiệm và sống với nó mỗi mội khoảnh khắc. Mặt khác, thời gian trôi với mỗi người đều khác nhau, dù chúng ta có chung một thời gian biểu. Dù thế, với mỗi người, thời gian không có mẫu số chung. Về mặt cơ học, mùa đông của bắc bán cầu là mùa hè của nam bán cầu, ban ngày ở một nơi là đêm ở một nơi khác trên thế giới. Tương tự như vậy, cuối năm với người này cũng có thể là đầu năm của người khác, tùy theo loại lịch mà ta sử dụng, hay quan niệm của ta thế nào là đầu năm, thế nào là cuối năm. Với nhiều người, đầu năm là ngày đầu tiên trong dương lịch, có người đánh dấu một năm mới bằng sinh nhật của họ. Tôi thường không ‘đánh dấu’ năm theo cách nào cả. Nhưng dịp này, dịp mọi người gọi là cuối năm, vẫn hay đem lại nhiều thứ tình cảm lạ kỳ, thường là hoài niệm. Và khi tôi được hỏi ‘bạn đã làm gì, đọc gì năm vừa rồi?’, cảm giác đó lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn. Dù rằng tôi sẽ không kỷ niệm cuối năm cũ hay đầu năm mới theo cách mà nhiều người vẫn làm. Chỉ là tôi cảm nhận thời gian khác chăng? Nói gì chăng nữa, ta vẫn luôn có những mốc thời gian. Với tôi, năm 2019 là năm không quá nhiều sự kiện, nhưng cũng có nhiều điều để nhớ. 2019 là năm tôi đọc nhiều sách nhất trong cuộc đời mình. Tôi dừng đếm bao nhiêu sách mình đã đọc, dù tôi vẫn có thể truy cập tài khoản thư viện và Goodreads để đếm. Với tôi, đọc bao nhiêu sách không còn quan trọng nữa. Từ lâu, với tôi, số sách ta đọc, hay thậm chí cả tựa sách đó ‘kinh điển’ tới mức nào không còn quan trọng nữa. Tôi nghĩ quan trọng ta biết gì hơn về thế giới, về trải nghiệm của những con người, những nhân vật trong sách, về cuộc đời tác giả của chúng, họ nghĩ gì khi viết những cuốn sách đó, có bao nhiêu cuốn sách họ có trong đầu nhưng không bao giờ viết ra, những câu chuyện thậm chí vẫn xảy ra mỗi ngày nhưng không có một nhà văn nào cho nó, những câu chuyện ấy rồi sẽ đi đâu?

Năm nay tôi đọc. Tôi yêu bản thân sự đọc, và cảm thấy may mắn vì mình có tiền, có tài khoản thư viện, và có thời gian để đọc. Đọc, có lẽ là một trong những thứ xa xỉ nhất trần đời này. Vì ta cần rất nhiều điều kiện để có thể đọc, có tiền, ít nhất để mua sách, hay máy đọc sách, ta phải biết chữ, tất nhiên, và cần một trình độ đọc nhất định, ta cần có thời gian và không gian lý tưởng để đọc nữa. Tôi, không giống nhiều người có thể đọc ở bất cứ nơi nào, tôi phải đọc ở thư viện, hoặc trong phòng riêng, khi tôi có nhiệt độ vừa phải, một tách cà phê hoặc một ly rượu, dù bên ngoài trời có lạnh hay gió có gầm rú thế nào. Nếu Virginia Woolf nói ta luôn cần một căn phòng riêng để viết, tôi nghĩ ta còn cần một căn phòng riêng để đọc.

Nói dông dài thế, sau đây tôi muốn kể những cuốn sách, trong rất nhiều cuốn tôi đọc năm nay, khiến tôi suy nghĩ, cười, và tò mò (tôi hiếm khi khóc khi đọc một cuốn sách, dù nó buồn thảm mức nào!), những cuốn sách thực sự đưa tôi vào thế giới nhân vật, thế giới của tác giả, khiến tôi muốn ngồi với họ một ngày nắng ấm, hay một đêm mưa bên lò sưởi, chỉ cần ở đó cùng nhau, để cảm nhận sự hiện diện của họ. Và những cuốn đó là…

1. The Story of the Night, Colm Tóibín (London: Picador, 1996)

Tôi tình cờ bắt gặp cuốn sách này khi đang lang thang trong một hiệu sách cũ một buổi chiều xám xịt tôi đi dạo cùng G. Xuất bản lần đầu năm 1996, The Story of the Night là cuốn tiểu thuyết thứ ba, và là cuốn tiểu thuyết đầu tiên về chủ đề đồng tính của nhà văn người Ireland Colm Tóibín, một trong những nhà văn Ireland đương đại nổi bật nhất. Trước đó tôi đã đọc cuốn The Master của cùng tác giả (và vài truyện ngắn khác), có lẽ là cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, cuốn sách dẫn tôi tới Henry James, nhân vật chính trong The Master, nhưng tiếc là tôi không thể hâm mộ James như cách mà Tóibín hay Woolf hâm mộ ông. The Story of the Night là cuốn tiểu thuyết đồng tính đầu tiên của một trong những nhà văn đồng tính thành công nhất hiện nay, nhưng cuốn sách không nhận được sự chú ý  của công chúng lẫn giới học thuật như nó đáng được nhận.

the story of the night.jpg

Cuốn sách kể câu chuyện của Richard Garay, một chàng trai người Argentina có nửa dòng máu Anh. Cậu sinh ra và lớn lên, yêu đương và chờ chết trong bối cảnh nền chính trị đầy biến động của đất nước Argentina. Cậu vật lộn với việc cậu đồng tính, và với nửa dòng máu Anh trong khi Argentina và Anh có chiến tranh trên quần đảo Falklands (Malvinas trong tiếng Tây Ban Nha). Richard cuối cùng cũng tìm được tình yêu của đời mình, Pablo, em trai người bạn cùng lớp mà Richard từng ‘cảm nắng’. Câu chuyện chân thực và cảm động, kể với ngôi thứ nhất từ góc nhìn của Richard, khác hoàn toàn với cách kể chuyện của tác giả trong The Master. Tôi đã đọc cuốn sách này, và đánh dấu ở từng trang, và đọc đi đọc lại.

2. Three Steps on the Ladder of Writing, Hélène Cixous; Sarah Cornell và Susan Sellers dịch (New York: Columbia University Press, 1993)

Trong cuốn sách này, Cixous, nhà văn được Derrida ca ngợi là cây viết đương đại tuyệt vời nhất trong tiếng Pháp, bàn về sự viết và nghệ thuật viết văn. Tôi, một người rất kém trong chuyện bình phẩm một cuốn sách, đọc nó với một niềm thích thú lớn lao. Tôi luôn tò mò nhà văn viết thế nào và họ cảm thấy như thế nào, nghĩ gì khi viết. Tất nhiên, Cixous, trong cuốn sách này, không cho ta câu trả lời cho những thắc mắc ấy, nhưng khi bàn đến những tác giả mà bà yêu thích, những cuốn sách bà yêu và đọc đi đọc lại, lập ra một bản đồ, ít nhất là với tôi, về sự viết lách, về khoa học của sự viết.

9780231076593.jpg

Tôi nhận ra mình yêu cách người Pháp suy nghĩ và viết, dù tôi vẫn không biết mô tả chính xác nó như thế nào. Họ nghĩ và viết với sự tự do vô bờ, với những ý tưởng lớn lao mới mẻ. Họ bàn về mọi thứ với sự chính xác và cẩn trọng. Dù tôi đọc sách của tác giả Pháp bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, những cuốn sách đều như luồng gió tươi mới buổi sáng, hơi lạnh thổi vào phòng khi ta mở cửa sổ đón những tia sáng mặt trời đầu tiên của buổi sớm, với ly cà phê nóng trong tay. Tôi không biết mình có phải người cuồng Pháp hay không (tôi đồ rằng không, vì tôi cũng có nhiều thứ để chê bai về Pháp), nhưng tôi phải công nhận rằng văn chương Pháp, những thứ được viết ra bằng thứ tiếng ấy, dù dịch hay gốc, luôn khiến tôi cảm thấy cởi mở hơn, những thứ mà từ đó tôi học được những điều mới mẻ.

3. Quand mourut Jonathan, Tony Duvert (Paris, Editions de Minuit, xxx)

Tôi muốn đọc Duvert từ rất lâu, nhưng sách của ông quả thực khó kiếm, kể cả ở Pháp. Sách cũ có thể có giá rất cao. Đặc biệt là cuốn này. Hiện nay có lẽ chẳng mấy người còn nhắc đến ông, một điều tôi thấy rất đáng buồn, mặc dù mới khoảng 40 năm trước ông còn rất nổi tiếng vì đoạt Prix Medicis, một giải thưởng văn chương khá danh giá ở Pháp, với một cuốn sách khác. Người ta đồn rằng cuốn sách này hiếm đến độ ở UK, chỉ riêng Đại học Oxford có duy nhất 1 bản dịch Anh ngữ của Quand mourut Jonathan. Tôi không ở đấy, nên cũng không biết thực hư ra sao. Nhưng tôi may mắn kiếm được bản tiếng Pháp xuất bản lần đầu ở thư viện nơi tôi sống.

41N9DT40DZL._SX345_BO1,204,203,200_

Quand mourut Jonathan là câu chuyện tình yêu buồn thảm, nhưng vô cùng đẹp đẽ giữa một cậu bé 8 tuổi và một chàng thanh niên 24 tuổi được mẹ cậu bé thuê làm ‘bảo mẫu’ cho cậu bé. Câu chuyện diễn ra ở một miền quê nước Pháp, những mùa hè đầy nắng và những đam mê khó lý giải. Khi mối quan hệ của hai người bị phát hiện, mẹ cậu bé chuyển cậu đi nơi khác hòng ngăn cấm hai người đến với nhau. Phần cuối tôi sẽ không kể tiếp, để những ai tò mò đi tìm cái kết.

Cuốn sách này được gợi cảm hứng một phần từ chính chuyện đời của Duvert. Năm lên 12 ông bị đuổi học, gia đình ông gửi ông tới một viện điều trị tâm thần để ‘chữa’ đồng tính. Những trải nghiệm ấy được ông kể lại là vô cùng hà khắc và dã man. Sau này, ông nổi tiếng một chút nhờ cuốn sách đoạt giải Medicis, nhưng nhanh chóng bị gạt khỏi các thảo luận văn chương vì không khí bài ấu nhi. Ông sống đoạn cuối đời trong nghèo khổ, và chết trong cô đơn không ai biết. Vài ngày sau, khi người ta phát hiện ra, xác ông đã bắt đầu phân hủy.

Trường hợp của Duvert khiến tôi nhớ tới Guy Hocquenghem, có lẽ vài người vẫn nhớ, một trong những lý thuyết gia đồng tính đầu tiên. Hocquenghem hồi còn đi học phổ thông cũng đem lòng yêu một giáo sư. Hai người về sau sống với nhau và trở thành những người cổ động mạnh mẽ nhất cho việc nhìn nhận lại vai trò và sự thức nhận của trẻ con. Bởi ta thường nghĩ trẻ con là con người vô dục tính, ‘không đủ tuổi để nghĩ’, để ham muốn. Nhưng có thực thế không? Liệu con trẻ có quá trẻ con để có thể nghĩ, có thể yêu?

Tôi tự hỏi tôi sẽ nói gì với cậu bé Duvert 8 tuổi lúc cậu mới có trải nghiệm tình dục đầu tiên, với cậu bé ấy năm 12 tuổi vật lộn trong viện điều dưỡng, nếu tôi có máy quay ngược thời gian?

4. My Brilliant Friend, Elena Ferrante; Ann Goldstein dịch (New York: Europa Editions, 2012)

Tôi tò mò về Elena Ferrante từ vài năm nay, bởi gần đây bà trở thành câu chuyện cửa miệng ở mọi bàn tiệc tôi tới, mọi người đều nói tới việc Ferrante cuốn hút thế nào, văn của bà thú vị thế nào. Bạn tôi luôn bảo tôi phải đọc bà. Và rồi tới năm nay tôi cũng có dịp đọc Ferrante. Cuốn sách này là một trong những cuốn sách thú vị nhất tôi từng đọc. Tôi đọc nó say sưa, và không muốn dừng lại, vì bà kể chuyện, có lẽ, như nàng công chúa Scheherazade. Ta không thể dừng đọc nếu không biết tiếp theo câu chuyện diễn tiến thế nào.

51hwCYsFPlL

Cuốn sách là câu chuyện về tình bạn giữa hai cô gái người Ý, ở Naples, Lenu và Lila, hồi những năm 50-60 thế kỷ trước. Những sự kiện xảy ra trong cuộc đời của hai cô gái khiến tôi nhớ lại tuổi ấu thơ của mình, và chuyện bao nhiêu người đã không có cơ hội học tiếp vì phải ở nhà giúp đỡ gia đình, bao nhiêu người phụ nữ bị chồng bạo hành, vân vân. Ấy còn là câu chuyện về một khu nghèo khó trong bối cảnh xã hội thay đổi, những xung đột giữa người giàu với người nghèo. Làng tôi xưa cũng nghèo. Và tôi thấy trong khi Ferrante kể về nước Ý, nó chính xác là những gì tôi trải nghiệm khi còn nhỏ. Bà kể chuyện với sự mạch lạc và ngôn ngữ chính xác kinh khủng. Và điều mà tôi yêu nhất ở cuốn sách này là sự chân thành tuyệt đối. Ferrante, kể chuyện từ góc nhìn của Lenu, không ngại ngần kể cả những xung đột và ghen tị giữa hai người bạn. Dù họ là bạn thân, vẫn luôn tồn tại ở đó sự đố kị. My Brilliant Friend có lẽ là cuốn sách chân thành nhất mà tôi từng đọc. Ai từng có bạn thân mà không ganh tị với bạn?

Có rất rất nhiều điều nữa để nói về cuốn sách này, nhưng tôi là người rất dở ‘phân tích’, lại cũng không muốn lảm nhảm quá nhiều rồi làm hỏng trải nghiệm đọc sách của bạn. Nhưng tôi nghĩ bạn hãy đọc nó.

À, cuốn sách này đã được HBO chuyển thể thành 1 series ngắn năm ngoái. Hãy đọc sách và xem phim. Tiếng Ý (dù tôi không nói) ở Naples nghe vui tai lắm. Với tôi, nó như là con lai của tiếng Ý chuẩn và tiếng Bồ Đào Nha (có lẽ chỉ tai tôi nghe thấy thế?).

5. When Widows Love & A Tragedy in Green, Ronald Firbank (London: Enitharmon Press, 1980)

Ronald Firbank là một nhà văn đồng tính bị lãng quên nữa mà tôi đọc trong năm nay. Có lẽ tôi nên gọi một năm đọc sách của tôi năm 2019 là năm của những nhà văn đồng tính bị bỏ rơi. Tôi biết đến Firbank từ Alan Hollinghurst (một nhà văn Anh đương đại nổi bật, đồng tính), cùng với Thomas Mann và Virgnia Woolf, Hollinghurst là một trong những nhà văn tôi đọc nhiều nhất. Hollinghurst học cử nhân văn học Anh ở Đại học Oxford, và ông viết luận văn tốt nghiệp về bộ ba nhà văn Anh đồng tính, một trong số đó là Firbank. Sách của Firbank giờ có lẽ khó kiếm, vì gần như chẳng còn ai nhắc tới ông. Cuốn này thì tôi chắc chắn là khó kiếm, vì Enitharmon là một nhà xuất bản rất đặc biệt, họ làm sách rất đẹp, giấy rất dày và thơm, nhưng luôn giới hạn số bản in ở con số 300. Và đặc biệt hơn nữa, họ chỉ làm những cuốn sách mà họ thích. Tuyển tập 2 truyện ngắn này, ngoài ra, lại không phải những tác phẩm nổi tiếng nhất của Firbank. Vậy là ta có đủ bộ những lý do cho sự hiếm của sách rồi!

Firbank là nhà văn đầu tiên và duy nhất tôi đọc trong năm nay khiến tôi bật cười như phát rồ. Và ông là một trong số rất ít ỏi nhà văn khiến tôi cười khi đọc (có lẽ vì tôi ít đọc văn châm biếm chăng?). Truyện của ông rất ngắn, nhưng nó tạo được với một số ít ỏi từ đó không khí truyện, tính cách đặc trưng của từng nhân vật. Và thiên tài của ông là ở hội thoại, những cuộc hội thoại tưởng như vặt vãnh và tiểu tiết, nhưng nói lên rất nhiều sự giả tạo, phù phiếm và hời hợt của giới thượng lưu Anh quốc, những nhân vật chính của ông. Đọc truyện Firbank, tôi vừa đọc vừa dừng lại thốt lên Ôi trời ơi! và lại tiếp tục cười. Tôi chưa đọc các sách khác của ông, cuốn này lại càng không phải tác phẩm tiêu biểu, nhưng tôi nghĩ tôi đã yêu ông ấy theo một cách nào đó. Và lần này, thần tượng của thần tượng của tôi đã trở thành một thần tượng mới của tôi. Tôi may mắn với thần tượng của Hollinghurst hơn với thần tượng của Tóibín.

6. Before Night Falls, Reinaldo Arenas (London: Serpent’s Tail, 2017)

Tôi biết đến Reinaldo Arenas, một nhà văn đồng tính vĩ đại của Cuba, và cuốn sách tự truyện này của ông nhờ bộ phim cùng tên được chuyển thể sản xuất năm 2000. Cuốn sách mở đầu bằng ‘Kết thúc’: ‘Tôi tưởng mình sẽ chết mùa đông năm 1987… Tôi thực sự chẳng thể nói tôi muốn chết; nhưng tôi tin rằng khi lựa chọn còn lại là chịu đựng và đau đớn không hy vọng, thì chết muôn lần tốt hơn… Nếu ta không thể sống như ta muốn thì sống còn nghĩa lý gì nữa.’

Trong Before Night Falls, Arenas kể câu chuyện cuộc đời ông, sinh ra trong một gia đình nghèo ở nông thôn Cuba và hành trình của ông từ một thanh niên đi theo cuộc cách mạng Cuba trở thành một trong những người chiến đấu dũng cảm nhất chống lại chế độ Castro. Ông bị đàn áp, bị cấm viết, bị bỏ tù và tra tấn, vì không đi theo ‘lý tưởng cách mạng’ và có ‘hành vi tình dục đồi bại’ trong con mắt chính quyền Cuba. Sau này ông phải bỏ nước ra đi và trốn sang Mỹ, tới New York. Năm ấy, 1987, ông phát hiện mình mắc AIDS. Mấy năm về sau, ông tự sát. Dòng cuối trong thư tuyệt mệnh, ông viết ‘Cuba sẽ tự do. Tôi đã tự do rồi.’

7. Eminent Maricones: Arenas, Lorca, Puig, and Me, Jaime Manrique (Madison: University of Wisconsin Press, 1999)

Maricón trong tiếng Tây Ban Nha là từ chỉ người đồng tính một cách miệt thị, giống như ‘pédé’ trong tiếng Pháp hay ‘faggot/poofter’ trong tiếng Anh vậy. Nhiều khi những người đồng tính vẫn dùng những từ như vậy để gọi nhau một cách bông đùa, giễu nhại, để thách thức chính cái miệt thị của xã hội.

51MA1PE882L._SX313_BO1,204,203,200_.jpg

Trong cuốn sách này, Jaime Manrique kể cuộc đời ông, một nhà văn đồng tính người Colombia, những cuộc gặp gỡ chuyện trò với Reinaldo Arenas và Manuel Puig (nhà văn đồng tính người Argentina), những người ảnh hưởng lớn với Manrique với tư cách nhà văn, và Garcia Lorca, nhà thơ đồng tính nổi tiếng người Tây Ban Nha. Manrique kể chuyện với sự chân thành hiếm có và những hy vọng cho tương lai. Văn phong tự nhiên và mạnh mẽ, không kiêng nể, Manrique bằng cách nào đó chạm tới độc giả bằng sự thật thà của ông. Ông khiến tôi nhớ đến Cixous khi bà bảo cuốn sách đáng viết là cuốn sách khiến ta đau đớn, ngượng ngùng, những cuốn sách khiến ta rỉ máu, phơi trần ta. Tôi tin tôi sẽ còn muốn đọc nhiều cuốn sách khác ông viết, tới Colombia, đất nước của ông, đất nước xinh đẹp và cũng nhiều bạo lực, đất nước không chỉ có Garcia Marquez hay Pablo Escobar, mà còn nhiều hơn nữa để ta khám phá.

8. Death in Spring, Mercè Rodoreda; Martha Tennent dịch (London; Penguin, 2018)

Tôi muốn đọc Rodoreda khi tôi còn ở xứ Catalan, dù không phải Catalan thuộc Tây Ban Nha, mà Catalan thuộc Pháp, một vùng đất kỳ lạ có trong nó cả văn hóa Pháp và văn hóa Catalan, vùng đất nhỏ xíu miền nam nước Pháp, có lẽ ít người biết đến vì không có tiếng nói đòi độc lập mạnh mẽ như Catalan thuộc Tây Ban Nha. Nhưng phải tới tận khi tôi ở Valencia, tôi mới mở cuốn sách mỏng này ra đọc, và nó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi đọc năm nay.

9780241352540.jpg

Tôi nghĩ Rodoreda không dễ đọc. Sách bà đầy hình tượng, và hiện thực huyền ảo, ngôn ngữ uyển chuyển và phức tạp, dù tôi chỉ đọc bản dịch Anh ngữ, và tôi không biết tiếng Catalan. Cuốn sách là câu chuyện về một cậu trai thiếu niên sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng xa xôi hẻo lánh giữa miền núi khô cằn cứ Catalan nơi người ta làm theo những truyền thống một cách mù quáng, không phán xét. Sách còn là ẩn dụ về bạo lực và lưu vong, như nhiều nhà phê bình đã chỉ ra. Nhưng hình ảnh mà tôi nhớ mãi, ấy là hình ảnh những người chết ở làng, họ đổ xi măng vô miệng xác, và cất xác trong thân cây trong một khu rừng mà dân làng hiếm khi dám vào một mình, nhất là buổi đêm. Đó là hình ảnh một ngôi làng được sơn toàn màu hồng, là hình ảnh của dòng sông với những dòng chảy nguy hiểm, kỳ bí. Cả không gian ấy, không gian nơi cậu bé sinh ra, là nơi hiểm nguy rình rập, là nơi điều bất khả lý giải ở khắp mọi nơi.

Khi bố cậu chết, cậu sống với người vợ trẻ của bố cậu. Hai con người cô đơn, lạc lõng, lạc lõng vì họ không thể hiểu nổi thế giới mà họ đang sống. Cuốn tiểu thuyết này là một trải nghiệm đọc tăm tối và đau đớn, là một câu chuyện khó quên. Rodoreda luôn viết bằng tiếng Catalan, thứ tiếng bị kiểm duyệt dưới thời Franco, và bản thân bà phải sống lưu vong ở Pháp và Thụy Sĩ. Sau khi Franco chết, bà trở lại xứ Catalan và sống ở Girona cho tới khi qua đời.

Xứ Catalan đầy nắng khiến tôi nhớ đến Salvador Dali, một nghệ sĩ Catalan nổi tiếng, và tôi nhớ cả nhà ga nơi thành phố nhỏ tôi từng sống, nơi Dali gọi là ‘trung tâm thế giới.’

9. Open Veins of Latin America: Five Centuries of the Pillage of a Continent, Eduardo Galeano; Cedric Belfrage dịch (London, Serpent’s Tail, 2009)

Cuốn sách này, viết bởi nhà báo người Uruguay Galeano, kể về lịch sử đau thương của Mỹ Latinh, một lịch sử của đàn áp, bóc lột, bạo lực, của chính trị loạn lạc và độc tài. Galeano cung cấp cho ta một cái nhìn đặc biệt, và khác thường, mà có lẽ ta không gặp trong những cuốn sách khác cùng chủ đề. Ông lý giải tường tận, và đi từ gốc rễ vấn đề, vì sao Mỹ Latinh trở thành lục địa như ta thấy ngày hôm nay, với tất cả sự khác biệt giữa mỗi đất nước. Ông viết với trái tim nóng, và một cái đầu lạnh, như ai đó đã từng nói, với sự tỉnh táo lạ lùng và kỹ thuật kể chuyện cuốn hút.

71-3mol-p8L.jpg

Tôi phải thú nhận rằng tôi không đọc nhiều sách non-fiction. Nhưng tôi thấy may mắn vì mỗi lần tôi chọn một cuốn từ hiệu sách, chúng đều giúp tôi hiểu hơn về thế giới, từ nhiều góc độ. Hôm nay, tôi tặng lại cuốn này cho thư viện, và tôi hy vọng sẽ có nhiều người đọc nó, để hiểu hơn về Mỹ Latinh, về thế giới nói chung, và về một giai đoạn lịch sử chúng ta đã có, để ta không quên những con người đã chết, những người đã sống khổ cực và đau đớn thế nào, để ta không để lịch sử ấy lặp lại (dù đáng buồn và đáng giận thay, sự thực ấy vẫn đang diễn ra).

10. Notes of a Native Son, James Baldwin (London, Penguin, 2017)

Tôi đọc Giovanni’s Room của Baldwin từ mấy năm trước. Và năm ngoái, khi đi một hiệu sách nhỏ (nhưng khá nổi tiếng) ở Paris, tôi bắt gặp Baldwin, lần này là Notes of a Native Son, tôi liền lấy nó, dù tới tận năm nay tôi mới mở ra đọc.

download.jpg

Cuốn sách là tập hợp những tiểu luận của Baldwin về trải nghiệm là người da đen ở Mỹ và châu Âu. Ông viết với cả trái tim, sự giận dữ, về lịch sử của người da đen và tình cảnh của họ, về việc người da đen bị đẩy ra rìa như thế nào trong xã hội Mỹ. Đây là bản tuyên ngôn đau buồn mà dũng cảm về con người, về xã hội mà chúng ta đang sống và xây dựng.

11. Ce qu’aimer veut dire, Mathieu Lindon (Paris: P.O.L. editeur, 2011)

Tôi được tặng cuốn sách này hồi đầu năm, nhưng tôi không hề đụng tới nó cho tới tận tháng 9. Tôi luôn có một kiểu, sách mà ta sở hữu, thì ta có thể đọc lúc nào cũng được. Mà tôi thì luôn chần chừ. Cuốn sách kể về chuyện tình giữa tác giả, con trai giám đốc nhà xuất bản Editions de Minuit, một nhà xuất bản nhỏ, nhưng cực kỳ quan trọng trong nền văn học Pháp, với Michel Foucault. Nhắc đến cái tên này, hẳn nhiều người sẽ ồ lên trầm trồ. Vì Foucault thì quá nổi tiếng rồi.

81jCFnifUsL.jpg

Cuốn sách còn kể mối quan hệ cha-con của nhà văn với cha mình. Giọng văn thành thực và xuyên suốt câu chuyện là một mối hoài niệm đau đớn về những giây phút hạnh phúc đã qua, về những nuối tiếc không thể thành hiện thực, cuốn sách này, với tôi, hay đến khôn tả. Và vì tôi đọc nó bằng tiếng Pháp, tôi có nó khi tôi sống ở Pháp, cuốn tiểu thuyết lại càng đặc biệt hơn.

12. The Man with Night Sweats, Thom Gunn (New York: Farrar, Straus and Giroux, 1993)

Tôi viết thơ, và đọc thơ, nhưng không nhiều. Một buổi tối ngày đông, tôi rời thư viện, và chợt bắt gặp cuốn này được trưng gần cửa ra vào. Tôi cầm sách lên và mang về. Đôi khi tôi nghĩ, việc đọc cũng giống như hẹn hò khi yêu, ta tình cờ gặp một người nào đó sẽ trở thành người ta yêu. Và với tôi, Thom Gunn là một trường hợp như thế.

Thơ ông là những dòng tự đáy lòng về những ham muốn, về cơ thể đàn ông (Gunn là nhà thơ đồng tính), về nỗi sợ hãi do AIDS mang lại, về nỗi đau đớn và sự chịu đựng mà con virus gây ra cho bạn bè ông. Ông viết về ham muốn xác thịt và về nỗi sợ, cũng như về cái chết theo cách mà với tôi, trong cách tôi đọc thơ, là thứ chạm đến ta nhất có thể. Tôi đọc ông, toát mồ hôi, y như người đàn ông trong thơ của Gunn.

13. Selected Poems, Fernando Pessoa; Jonathan Griffin dịch, biên tập và viết lời tựa (London: Penguin, 2000)

Mấy năm trước, tôi đọc The Book of Disquiet của Pessoa, và ngay lập tức hâm mộ ông. Tôi còn nghĩ tới chuyện học tiếng Bồ Đào Nha vì tình yêu tôi dành cho Pessoa. The Book of Disquiet là tập hợp những mẩu ông viết để chuẩn bị cho cuốn tiểu thuyết ông dự định trong đầu nhưng không bao giờ hoàn thành. Các mẩu này được người đời sau biên tập lại thành sách sau khi ông mất. Nhưng tôi luôn nghĩ với số lượng những đoạn đó, ta có thể có vô vàn phiên bản của The Book of Disquiet, tùy theo cách đọc của mỗi người. Và không ai biết được Pessoa đã dự định thế nào khi ông còn sống. Cuốn sách ‘disquiet’ ở bản thân sự tồn tại của nó, nó là muôn vàn khả năng.

Ngoài ra, và chủ yếu khi ông còn sống, Pessoa được biết đến với tư cách nhà thơ. Hồi trẻ, ông viết thơ tiếng Anh, nhưng sau đó chuyển sang chỉ viết bằng tiếng Bồ Đào Nha. (Cần nhắc lại ông là người song ngữ, ông sống nhiều năm ở Nam Phi cùng mẹ và dượng). Ông viết thơ dưới 4 cái tên Alberto Caeiro, Alvaro de Campos, Ricardo Reis và Fernando Pessoa. Mỗi cái tên không đơn giản chỉ là bút danh, mà với nó phong cách thơ của Pessoa cũng khác, khi ông là Alberto, khi khác ông là Alvaro, khi khác thì Ricardo và đôi khi Fernando. Cũng như cuốn sách ông dự định có nhiều khả năng, thì thơ của ông cũng có ‘giọng nói’, nhiều bản sắc, nhiều góc cạnh. Tuyển thơ có thể đọc như tập thơ bao gồm nhiều nhà thơ, nhiều nhà thơ trong một nhà thơ Pessoa. Ông thực sự là một nhà thơ, nhà văn bí ẩn và hiếm có, bởi lẽ Pessoa tự biến đổi bản thân và sức sáng tạo của ông, như một con bướm, khi thì là sâu, khi thì tĩnh lặng trong kén, rồi thoắt cái tung cánh bay.

14. As I Walked Out One Midsummer Morning, Laurie Lee (London: Deutsch, 1969)

Tôi, như thường lệ, lang than trong thư viện, nơi kệ văn học Anh, nơi tôi hay ngồi cạnh, hoặc ngồi bệt xuống sàn ngay dưới những giá cao ngất sách là sách, và tôi tìm thấy cuốn này. Tôi cầm nó lên vì lúc đó hè đã đến, trời đầy nắng và gió rất ấm. Và tôi bắt đầu đọc. Cuốn sách là tự truyện của Laurie Lee, và là cuốn thứ hai trong bộ ba tự truyện nổi tiếng của ông. Sách kể về hành trình của ông, đi bộ từ làng quê lên London, rồi xuống Southampton, và bắt tàu đi Tây Ban Nha. Vì cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, ông băng qua những đồi núi của dãy Pyrenees sang Pháp để quay lại Anh. Ông đã đi qua vùng nơi tôi từng sống ở Pháp. Văn chương dễ đọc, chân thực và sống động, cũng như sự mô tả sáng tỏ và đầy tình cảm về những vùng đất ông đã đi qua gợi lại trong tôi nhiều kỷ niệm về vùng đất ấy. Tôi vẫn cứ tưởng tượng một chàng thanh niên người Anh trẻ, cất bước ra đi, mỗi tối lại lôi ra một quyển sổ nhỏ, ghi lại trải nghiệm và suy nghĩ trong ngày, và rồi sau này nó trở thành cuốn sách tôi đang cầm trong tay.

5557

Và cũng như Laurie Lee, tôi gấp sách của ông lại và cất bước một buổi sáng mùa hè nọ, lên đường đi Tây Ban Nha.

15. An Anthology of Basque Short Stories, Mari Jose Olaziregi tuyển chọn (Reno: University of Nevada, 2004)

Mùa hè này tôi tới xứ Basque, ở một ngôi làng nhỏ gọi là Plentzia, cách Bilbao, thành phố lớn nhất xứ Basque, khoảng 12-15km. Đây là một trong những khoảng thời gian tuyệt vời nhất tôi có trong năm nay, được hưởng cái nắng chói chang của Tây Ban Nha, được nghe và nói tiếng Tây Ban Nha, thứ tiếng, với tôi, mới thực sự là ngôn ngữ của tình yêu (với tôi tiếng Pháp là ngôn ngữ của kỷ niệm, của giấc mơ. Và dù ở đây mọi người nói cả tiếng Basque). Thời gian sống ở đây, dù ngắn, nuôi trong tôi một tình yêu kỳ lạ với vùng đất này, với thứ tiếng này. Tiếng Basque, như nhiều người hẳn đã biết, là ngôn ngữ cô lập. Nó không giống bất cứ thứ tiếng nào ở châu Âu cũng như trên thế giới, và nó không có họ hàng với bất cứ thứ ngôn ngữ nào trên thế giới. Nó là thứ ngôn ngữ đặc biệt, kỳ lạ, và thậm chí bị cấm đoán dưới chế độ Franco ở Tây Ban Nha, thứ tiếng có chưa tới 1 triệu người nói, nhưng mang trong nó bao nhiêu bản sắc và truyền thống. Những ngày hè đó, ngày nào tôi cũng bắt chuyến metro Bilbao đi từ Plentzia vô trung tâm Bilbao. Metro Bilbao không hiện đại khó tưởng và nhanh như những chuyến metro khác ở châu Âu tôi từng đi, nhưng là chuyến metro tôi yêu nhất. Chuyến metro gợi trong tôi nhiều tưởng tượng. Tôi thường nghĩ khi tôi di chuyển, dù đi bộ hay đi tàu, buýt. Và mỗi buổi sáng và tối, trên chuyến metro đi và về từ Bilbao, tôi luôn tưởng tượng trước mặt tôi là một nhà văn xứ Basque, ngồi kể tôi nghe về bản thảo ông đang viết. Dù thực sự tôi không gặp một nhà văn xứ Basque nào, tôi luôn định bụng sẽ đọc văn học của xứ này.

Về lại thị trấn nhỏ nơi tôi sống, tôi gõ vô trang tìm kiếm của thư viện ‘Basque literature’, và tôi tìm được cuốn sách nhỏ này. Tôi đồ rằng không mấy người đọc, vì tôi phải ‘request’ từ kho của thư viện. Sách rất mới, như chưa có người đụng tới bao giờ. Cuốn sách là tập hợp những truyện ngắn của các nhà văn nổi bật nhất viết tiếng Basque. Những truyện ngắn đầy trí tưởng tượng, đầy hình ảnh và sự phá cách của các nhà văn xứ Basque. Mỗi tác giả còn có khoảng 1-2 trang tiểu sử để kể về bản thân họ. Cuốn sách này thực sự đáng đọc với những ai muốn có một cái nhìn ngắn gọn về văn học xứ Basque.

16. Aventura venecia y otros cuentos, Vicente Blasco Ibáñez (Valencia: Ajuntament de València, 2018)

Từ xứ Basque tôi tới Valencia, để tiếp tục tận hưởng mùa hè xứ Tây Ban Nha. Căn nhà tôi ở nằm ngay trên đại lộ Blasco Ibáñez, gần phía biển. Tôi tò mò Google cái tên, và được biết ông là nhà văn sinh ra ở Valencia. Tôi đi hiệu sách và thấy sách ông bày bán khắp nơi. Quả thực, ông là một trong những nhà văn lớn nhất của đất nước này. Ông đi rất nhiều, và viết cũng nhiều, đặc biệt là về Argentina, vùng đất tôi luôn mơ đi tới. Một ngày nọ, tôi bắt gặp cuốn sách này trong hiệu sách, tôi cầm lên và thử đọc, và tậu lấy 1 bản. Tôi thường có kiểu cầm một cuốn sách lên, đọc trang đầu tiên, trang cuối cùng và một trang bất kỳ trong sách, nếu tôi thích, tôi sẽ mua cuốn sách đó. Tuyển tập truyện ngắn này cũng không phải ngoại lệ.

Trong tập truyện ngắn này, có một truyện viết về Byron. Câu chuyện về cơ bản chỉ là cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa Byron và người lái gondola ở Venice. Nhưng có những câu thoại tôi cảm thấy như nói tiếng lòng mình. Và tôi đọc cuốn sách này, giữa những ngày oi ả nóng nực, không mưa ở Valencia, ở chính con đường mang tên tác giả.

Tôi muốn trích câu thơ của Chế Lan Viên vì nó khái quát những gì tôi cảm thấy và còn nhớ về Valencia và con đường nơi tôi từng sống mang tên Blasco Ibáñez, ‘khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.’

17. Los suicidas del fin del mundo: Crónica de un pueblo patagónico, Leila Guerriero (Buenos Aires: Tusquets, 2006)

Năm nay, lần đầu tiên tôi đọc sách bằng tiếng Tây Ban Nha. Đây là một tác phẩm phi hư cấu, và những chuyện tác giả kể trong cuốn sách đều là chuyện có thật, dù bà phải đổi tên của nhân vật. Guerriero làm chuyến hành trình đến Las Herras, một thị trấn nhỏ miền nam Argentina, để kể câu chuyện, và cố gắng tìm câu trả lời cho những vụ tự sát ở đây. Nơi đây, nơi người ta gọi là nơi tận cùng thế giới, như tựa sách cũng gợi ý, hồi cuối thế kỷ trước, hàng loạt thanh niên độ tuổi mới chỉ 18-28 tự sát. Không ai hiểu vì sao họ đi tới quyết định tước đi cuộc sống của mình, không thống kê chính thống nào của Argentina đề cập tới họ, báo chí Argentina không nói tới (dù ngạc nhiên và buồn thay, họ nói tới tự sát ở Nhật, mà không hề đả động tới tự sát ở chính đất nước họ!).

Las Herras trong lời kể của tác giả, từng là vùng đất của hy vọng khi mọi người từ nhiều vùng của Argentina tới đây để tìm việc vì ngành dầu mỏ đang phát triển ở đây. Và rồi nó trở thành vùng đất của sự buồn chán, của sự ‘không’, của thất vọng, nơi không có gì diễn ra. Và người trẻ tự sát hàng loạt. Vì sao? Cuốn sách không cho ta câu trả lời, như những vụ tự sát luôn làm ta bàng hoàng và đẩy ta vào trạng thái hoang mang không lý giải. Nhưng cuốn sách kể những câu chuyện của người sống, của người thân những người trẻ tự sát, những câu chuyện mà nếu tác giả không lặn lội đường xa tới để nghe và kể, thì có lẽ sẽ không ai trên thế giới này kể.

Thị trấn ấy, trong tưởng tượng của tôi khi đọc sách, là thị trấn đầy gió, thị trấn đầy những con ma, thị trấn của những người và bóng ma bị thế giới lãng quên, những câu chuyện không ai kể, những con người không ai biết. Và nó khiến tôi tự hỏi, đã có bao nhiêu câu chuyện chúng ta quên chưa kể sẽ mãi không người biết đến trên thế giới này, những câu chuyện ở tận cùng thế giới?

18. The Scottish Invention of English Literature, Robert Crawford biên tập (Cambridge: Cambridge University Press, 1998)

Tôi tình cờ thấy cuốn sách này khi đang lang thang trong thư viện, tìm đọc một chút về lịch sử ngành văn học Anh như một ngành học ở bậc đại học. Nhiều người, trong đó có những học giả như Terry Eagleton và Gauri Viswanathan, cho rằng văn học Anh được học và nghiên cứu đầu tiên không phải ở Anh (England) mà ở Ấn Độ. Trong cuốn tuyển tập tiểu luận này, Robert Crawford, giáo sư văn học Scotland đương đại ở Đại học St Andrews, đưa ra bằng chứng rằng văn học tiếng Anh được học và giảng dạy đầu tiên không phải ở England hay Ấn Độ mà là ở Scotland.

41N3ARDZA4L._SX331_BO1,204,203,200_.jpg

Một số người cũng có thể đã nghe Đại học Edinburgh quảng cáo rằng họ là trường đại học đầu tiên trên thế giới thành lập khoa văn học Anh vào năm 1760. Nhưng Crawford lập luận rằng Đại học St Andrews có giáo sư văn học Anh đầu tiên từ năm 1720, và Hugh Blair, giáo sư văn chương đầu tiên của Edinburgh, thậm chí còn tới St Andrews theo học. Ông cho rằng vị trí của St Andrews và Aberdeen bị lu mờ dưới cái bóng của Edinburgh và Glasgow, hai đô thị lớn nhất Scotland.

Cuốn sách này là tập hợp nhiều tiểu luận thú vị khác nữa, kể chi tiết ảnh hưởng của Scotland tới việc phát triển văn học Anh như một ngành nghiên cứu nghiêm túc, trước hết là với Trinity College Dublin (trường đại học cổ nhất Ireland) và UCL (trường đại học cổ thứ 3 ở England). Khi Scotland, vào cuối thế kỷ 15, đã có tới 4 trường đại học, thì England với đất đai rộng hơn, dân số đông hơn, chỉ có Oxford và Cambridge. Và tới cuối thế kỷ 18, khi văn học Anh là môn bắt buộc cho tất cả sinh viên ở Scotland bất kể chuyên ngành gì, thì Oxbridge vẫn chỉ tập trung vào các môn kinh điển, Hy Lạp và Latinh. Ảnh hưởng của Scotland còn vươn xa hơn nữa, khi nó tới cả những miền biên giới xa xôi nhất của đế chế Anh, len vào giảng đường của những trường đại học mới thành lập nửa sau thế kỷ 19 ở Úc và New Zealand.

Tôi không biết liệu cuộc tranh luận ai là người đầu tiên làm điều gì đấy có thể giúp chúng ta nhìn nhận hiện tại tốt hơn không. Nhưng lịch sử thì vẫn cứ là lịch sử. Và đây là một cuốn sách thú vị về một vùng đất vô cùng đặc biệt, với nền văn hóa đặc trưng không trộn lẫn, với một lịch sử phức tạp đan chéo, một vùng đất dù có một quá khứ và hiện tại vinh quang vì những đóng góp của nó cho Vương quốc Anh, nhưng luôn bị coi là ‘xứ ở phía bắc England.’ Nhưng chính tại nơi phía xa xôi tận cùng phương bắc của đế quốc ấy, bài giảng văn học Anh đầu tiên được giảng ở một trường đại học tí hon ở một thị trấn tí hon ngoài rìa nơi người ta gọi là Kingdom of Fife (1 county ở Scotland). Và tập tiểu luận này dẫn tôi tới một tác giả mà tôi muốn gọi là ‘nhà phê bình và lý thuyết gia đồng tính đầu tiên của chúng ta.’

19. Essays on the Pleasures Received from Literary Compositions, William Greenfield (London & Edinburgh: Longman, Hurst, Rees et al., 1813)

William Greenfield (1754-1827) là mục sư người Scotland và giáo sư văn học ở Đại học Edinburgh. Ông sau này bị rút phép thông công ở nhà thờ Scotland và phải sống lưu vong ở England vì bị giáo dân tố cáo ‘có những hành vi không đúng đắn.’ Ông đồng tính.

Trong tập tiểu luận này, ông bàn về nhiều mặt của các tác phẩm văn học, từ văn học cổ tiếng Hy Lạp và Latinh tới Shakespeare và những tác giả Anh ngữ trước và cùng thời với ông. Greenfield đặc biệt quan tâm tới các nhân vật nữ và nam đồng tính trong các tác phẩm mà ông phân tích. Ông phê bình sắc sảo, giọng văn trong sáng mà không thiếu phần đẹp đẽ và hùng biện. Quan điểm về giới của ông đặc biệt tiên phong. Những điều mà ông nói về giới, với tôi, chính xác là những gì mà Judith Butler, một lý thuyết gia đương đại về giới nổi tiếng, nói khoảng hai thế kỷ sau ông.

71k9G2qfLlL.jpg

Nhưng Greenfield tất nhiên không nổi tiếng như Butler, thậm chí, tôi đồ rằng, ít người từng nghe tên ông. Sách của ông không còn lưu hành, và rất khó kiếm. Tôi tới phòng đọc đặc biệt của thư viện để yêu cầu đọc sách ông. Phòng đọc đặc biệt ở chỗ tôi ở, tất cả sách (quý hiếm và cũ) được đặt trên một cái gối bông, và ta phải đeo găng tay khi đọc. Tôi cảm thấy rất may mắn vì được đọc sách ông, trong một buổi sáng mùa đông mưa lạnh lẽo. Đây là một trong số rất ít cuốn sách tôi đọc liền mạch, với một niềm say sưa khó tả, vì ông viết quá mạnh mẽ, quá tuyệt vời. Và tôi tự hỏi, sẽ làm sao nếu ông sống trong thời đại ta, và nếu xã hội ông sống cởi mở hơn. Tôi tự hỏi ông yêu như thế nào, ông nghĩ thế nào và cảm thấy ra sao khi bị xã hội ruồng bỏ, bị tước hết mọi thứ. Tôi tự hỏi có bao nhiêu cuốn sách, có thể cũng tương tự như sách của Greenfield, gặp phải số phận tương tự, vì bối cảnh mà nó ra đời, và đôi khi vì thế giới đã chọn quên đi sự tồn tại của nó, trong vòng quay của sự thường tình?

20. An Orphan World, Giuseppe Caputo; Sophie Hughes và Juana Adcock dịch (Edinburgh: Charco Press, 2019)

Cuốn sách này là cuốn mới nhất được xuất bản trong danh sách này, cũng là cuốn tôi mới đọc gần đây. Một ngày, G đưa tặng tôi cuốn sách này, bảo rằng nó hay lắm, và rằng cậu ấy cam đoan tôi sẽ thích. Tôi cầm nó lên tàu trong một chuyến đi ngắn tới thành phố khác, tôi đọc trên tàu và ở bến đợi. Và tôi phải kiếm ngay điện thoại để nhắn tin cho G, bảo cậu ấy rằng đây là một trong những cuốn sách tuyệt vời nhất tôi đọc trong năm nay.

Giuseppe Caputo là một tác giả trẻ (và rất rất đẹp trai!!!), đồng tính, người Colombia. Anh từng học viết văn ở Iowa và New York. Cuốn sách này kể câu chuyện của một chàng trai trẻ sống cùng ba anh ở một thị trấn nhỏ miền biển. Hai người phải vật lộn với cái nghèo, với cái ăn mỗi ngày, và người con trai, với những ham muốn của anh. Cuốn sách đau đớn, buồn, và sexy. Sex được mô tả trong sách vô cùng chân thực, những ham muốn và tưởng tượng mà không phải ai cũng dám thừa nhận, dù là với bản thân hay bạn bè, rằng mình có.

Cũng giống như G, tôi chỉ muốn đưa cho bất cứ ai tôi gặp cuốn sách này và bảo họ hãy đọc đi.

21. Journal of Katherine Mansfield, Katherine Mansfield; John Middleton Murry biên tập (London: Constable & Co., 1927)

Tôi thích viết nhật ký, và cũng thích đọc nhật ký của người khác. Mansfield nổi tiếng là nhà văn viết truyện ngắn trường phái hiện đại, được nhắc đến cùng James Joyce, Virginia Woolf, T. S Eliot, v.v… Bà còn là niềm tự hào của New Zealand, và một trong những giải thưởng văn chương quan trọng nhất xứ kiwi mang tên bà. Cuộc đời của bà nhiều sóng gió.

Tập nhật ký này được biên tập bởi chồng bà, xuất bản 4 năm sau khi Mansfield mất. Tôi yêu truyện ngắn của bà. Nhưng tôi đặc biệt yêu Mansfield trong nhật ký của bà. Tất cả những buồn đau (nhất là nỗi đau của bà khi em trai yêu quý của bà mất trên chiến trường trong Thế chiến thứ nhất khi chiến đấu cho quân đội đế chế Anh), những mệt mỏi, những ‘confusion’ của bà với cuộc đời và những băn khoăn về sự viết, chiêm nghiệm về cuộc đời trong những ngày cuối cùng của đời bà, tất cả hiện lên rất chân thực, chân thực một cách đau đớn.

22. The Waves, Virginia Woolf (Oxford: Oxford University Press, 2008)

Tôi hâm mộ Woolf từ lâu, và bà là nhà văn cho tới nay tôi đọc nhiều nhất. Tôi đọc tất cả những gì có tên bà trên đó, tiểu thuyết, truyện ngắn, nhật ký, tiểu luận, thư từ, phê bình, v.v… Cuốn tiểu thuyết này là một trong số đó. Tôi lấy nó làm điển hình không chỉ bởi vì tôi yêu nó mà còn vì trong đó có một câu, tôi không chắc nó đặc biệt với người khác, nhưng tôi đã trích dẫn nó trong mọi bài viết của tôi từ lúc tôi đọc nó tới nay.

Cuốn sách là cuộc hội thoại dài của 6 người bạn. Mọi người có lẽ cũng thấy khó mà tóm tắt truyện của Woolf. Nhưng một câu chuyện có cần tóm tắt không? Tôi cho là không. Và dù tôi không biết làm sao để diễn giải tình yêu của tôi với bà, tôi vẫn đọc bà mỗi ngày, thỉnh thoảng viết bức thư cho bà, dù không bao giờ gửi, và không thể gửi. Tôi yêu Woolf nhiều hơn tôi có thể nói.

220px-TheWaves.jpg

Và có vài cuốn sách tôi tâm đắc trong năm nay, nhưng tôi lại là người quá dở khi có ai hỏi sách hay thế nào. Tôi chỉ còn cách liệt kê ra đây, để nếu ai quan tâm, hãy cầm sách lên và đọc. Như cách G cứ giúi vào tay tôi một cuốn sách và bảo ‘đọc đi’.

23. About Love and Other Stories, Anton Chekhov; Rosamund Bartlett dịch (Oxford: Oxford University Press, 2004)

24. Hunger, Knut Hamsun; Sverre Lyngstad dịch (Edinburgh: Canongate, 2006)

25. Buddhist Scriptures, Khuyết danh; Edward Conze dịch (London: Penguin, 1959)

26. The Sound the Stars Make Rushing Through the Sky: The Writings of Jane Johnston Schoolcraft, Jane Johnston Schoolcraft; Robert Dale Parker biên tập (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 2007)

Tôi muốn cảm ơn những ai đã chịu khó đọc đến đây. Vì sự đọc là riêng tư, những cuốn sách ta thấy hay không nhất thiết là hay với tất cả mọi người, vì bạn đã quan tâm đến một năm đọc sách của tôi. Và cho tôi xin lỗi nếu ai đó cảm thấy mình đã bỏ phí 30 phút cuộc đời để nghe tôi nói nhảm về những cuốn sách tôi thích. Khi tôi đọc sách và thấy một cuốn nào đó hay, tôi thường thảy một tin nhắn cho bạn tôi, nói rằng cuốn này cuốn kia hay lắm, đọc đi, giống như cách mà G bảo tôi về sách của Caputo. Và khi ai đó hỏi, cuốn đó hay thế nào, tôi thường phải vật lộn rất nhiều để ‘chứng minh’ nó hay làm sao. Chưa kể đến vốn tiếng Việt sơ sài của tôi. Tôi luôn mong mọi người, mọi người trên thế giới, có điều kiện thời gian và vật chất để đọc, để biết nhiều hơn những câu chuyện trên thế giới này, những câu chuyện ta chưa từng biết, ta chưa từng nghe, những câu chuyện từ những vùng ta chưa đặt chân tới, những câu chuyện đưa ta đi xa hơn thế giới mà ta đang sống, những câu chuyện giúp ta hiểu hơn con người. Tôi luôn tin đọc nhiều, hay đọc những cuốn sách được coi là kinh điển, là thời thượng, không khiến ta ‘xịn’ hơn những người không đọc (đôi khi vì họ không có điều kiện đọc), không khiến ta thời thượng hơn người. Sách, tôi nghĩ, và sự đọc, nên giúp ta cởi mở hơn với thế giới, với những câu chuyện và cách nghĩ khác ta. Sách không để ta thờ phụng, không để ta khoác lên người như một thứ thời trang, không phải bàn đạp để ta phán xét, mà để ta là người yêu thế giới, yêu con người hơn, là thứ mở cho ta những thế giới khác, những cửa sổ khác, với trái tim mở rộng và chào đón.

K.

Bạn nghĩ sao?